Lâu lâu chuyện không dzui ghé thăm bất cứ ai, bất cứ lúc nào. Có thể chuyện không dzui xẩy ra từ bạn bè, gia đình. Cũng có khi đến từ công việc do không thành công trong những dự định của mình, hoặc bị người khác xem thường, hoặc không được sếp ưu đãi v.v. Cũng có khi "Tôi buồn không biết vì sao tôi buồn" ("Xuân Diệu" thì phải). Người này gây cho người khác buồn, người khác gây cho người nọ không dzui. Rồi ai cũng vậy, bất cứ ai, dù ở địa vị nào, dù giữ chức vụ nào cũng sẽ có ngày trở thành nạn nhận của chuyện ko dzui.

Nếu mình rơi vào trong tình trạng này mà cứ chìm đắm trong chuyện ko dzui rồi dẫn đến thất vọng thì... quả là đáng buồn. On the contrary, nếu mình có thể nghĩ đến một điều gì khác tốt đẹp hơn, bỏ đi những chuyện ko dzui, tìm cho mình những hướng đi mới v.v. Then, Hope visits you soon or later. Lúc đó, quay lại chuyện không dzui thì chỉ thấy nó là một điều gì đó nhỏ bé, đơn giản. Thậm chí chẳng đáng cho mình mất thời gian chú ý đến.

Hy vọng luôn là mục đích cho mình nhắm đến. Phải hy vọng mới có thể có động lực. Phải hy vọng mới có thể thành công, và phải hy vọng mới có thể vượt qua được tất cả những nỗi buồn do khách quan hay chủ quan đến với mình. Hy vọng phải luôn là tình yêu và là bạn đường đồng hành mỗi ngày trong cuộc sống của mình.

Bài viết này hy vọng trở thành người bạn nhỏ bé mang tên hy vọng đến với các bạn. God be with you all.

Các bạn tham khảo thêm các bài sau:

1. Tìm ý nghĩa cho mình mỗi ngày
2. Hoài bão và ước mơ
3. Sống bình an
4. Còn gì để nhớ ở San Jose
5. Do a nice behavior
6. Hạnh phúc không phải đến từ một đám cưới linh đình
7. Struggle at work

Names: Võ Thị Hoàng Quyên
Lê Thị Thực
Trịnh Thị Kim Thơ
Class: DH06AVG
Subject: American Literature
Instructor: Lecturer Phạm Vũ Phi Hổ


CHƯƠNG 1

Thuở xưa, có một nhà vua mang trong mình bản chất bán man rợ_tuy dã man nhưng Ngài cũng luôn chừa cho người ta một con đường sống_ nhờ học hỏi sự tiến bộ của các nước láng giềng Latinh mà những ý tưởng của Ngài trở nên sắc bén, tinh tế hơn, thế nhưng bản chất man rợ vẫn chiếm lĩnh một nửa con người ấy. Ngài giàu trí tưởng tượng và đầy quyền uy đến nỗi không ai dám chống lại, và mọi ý tưởng xuất hiện trong đầu Ngài đều trở thành hiện thực dưới bàn tay quyền lực của Ngài. Ngài có thói quen hay trầm tư suy nghĩ một mình, và bất cứ điều gì Ngài cho là đúng, tất điều ấy sẽ đuợc thực hiện đến cùng. Tính khí của Ngài rất ôn tồn và thân ái khi mọi chuyện trong hoàng gia và triều chính diễn ra suôn sẻ; còn khi có một chút khó khăn xảy đến trong vương quốc mình, Ngài lại càng hòa nhã và vui vẻ hơn, vì không gì khiến Ngài vui sướng bằng có dịp để thể hiện quyền uy của mình trong việc chỉnh đốn lại triều đình.

Trong số những biện pháp man rợ mà Ngài dùng để cai trị vương quốc mình phải kể đến đấu trường công cộng, đó là nơi để phô diễn sức mạnh của người và thú, và cũng là nơi mang lại sự phấn khích cho thần dân trong vương quốc Ngài. Mọi thứ ở đây đều cho thấy trí tưởng tượng của Ngài rất phong phú và man rợ, đấu trường mà Ngài xây lên không phải là nơi mà dân chúng đến để nghe những khúc cuồng tưởng của các đấu sĩ đang hấp hối, cũng không phải để cho họ xem hồi kết quen thuộc của cuộc xung đột giữa các quan điểm tôn giáo và chết chóc, mà với mục đích sâu xa hơn chính là mở rộng và phát huy nghị lực tinh thần cho dân chúng trước những cảnh tượng sống còn mà họ chứng kiến trong mỗi phiên xử. Đấu trường rộng lớn này có cấu trúc bậc thang từ thấp đến cao với những dãy hành lang vây quanh và những hầm mộ huyền bí nằm sâu trong những con đường ngầm đầy bí ẩn. Đó là nơi của công lý tối thượng được thực thi, trong đó tội ác bị trừng phạt, đức hạnh được ban thưởng thông qua những chiếu chỉ công bằng và liêm khiết của nhà vua.

Hễ một thần dân nào đó phạm trọng tội liên quan đến nhà vua thì ắt sẽ bị xét xử, ngày định mệnh của hắn trên đấu trường của nhà vua sẽ được bố cáo khắp nơi trên các bản cáo thị của nhà vua. Mặc dù những nghi thức và cách hành xử thì được vay mượn từ những nước Latinh xa xôi nhưng mục đích của đấu trường này thì lại xuất phát từ ý tưởng man rợ của nhà vua, Ngài hài lòng với những ý tưởng của mình bất chấp cả những phong tục tập quán trong xứ. Những cảnh tượng tử tù bị bỏ lại một mình trong đấu trường giữa sự sống và cái chết chính là bản chất trong con người Ngài.

Khi dân chúng đã tụ tập đông đúc ở các dãy hành lang, phía đối diện nhà vua ngự trên ngai vàng giữa các triều thần vây quanh, Ngài ra hiệu, một cánh cửa bên dưới được mở ra và kẻ tử tù từng bước tiến vào đấu trường, không có một lối thoát nào ngoại trừ hai cánh cửa giống nhau như đúc nằm liền kề nhau trước mặt hắn. Việc hắn cần và phải làm chính là đến gần hai cánh cửa này và mở một trong hai cánh cửa ấy ra, hắn có thể mở cái này hay cái kia tùy ý mà không phải chịu bất kỳ sự tác động hay ảnh hưởng nào ngoài sự ngẫu nhiên chẳng chút thiên vị và không sao mua chuộc được như nói ở trên. Nhưng nếu kẻ tử tội mở trúng cánh cửa chứa con hổ, điều dã man và khủng khiếp nhất sẽ xảy đến; con hổ đói, hung tợn nhất lập tức chồm tới và xé hắn thành từng mảnh như một sự trừng phạt cho lỗi lầm mà hắn bị buộc tội. Trong chốc lát, số phận của tên tử tội được “định đoạt”, từ phía xa xa những tiếng chuông đồng ai oán vang lên, tiếng than khóc thảm thiết của cha mẹ và những kẻ khóc mướn từ góc của đấu trường, những cái lắc đầu thương cảm nặng nề, tim người xem như chùn xuống, họ lững thững lê bước về nhà, nỗi tang thương trong lòng họ quá lớn vì một người còn quá trẻ và đẹp đẽ, hoặc cũng có thể quá già và đáng kính lại phải chịu số mệnh quá nghiệt ngã.

CHƯƠNG 2

Nhưng nếu tên tử tù mở cánh cửa có người con gái bước ra thì sao, xét về tuổi tác và địa vị trong xã hội, nàng là người xứng đáng với anh ta nhất. Ngay lập tức anh sẽ được lấy nàng làm vợ như một phần thưởng minh chứng cho sự vô tội của mình. Chuyện anh ta đã có vợ, có con hay chưa, hoặc việc anh đã hứa hẹn với ai đó thì chẳng có ý nghĩa gì cả, đức vua không cho phép bất cứ chuyện thứ yếu nào xen vào kế hoạch thưởng phạt của Ngài.Cũng như những trường hợp trước, mọi việc diễn ra ngay lập tức trên vũ đài. Cánh cửa bên dưới ngai vàng vua ngồi được mở, một vị linh mục cùng đoàn tùy tùng ca múa nhạc bước ra. Họ tiến đến chỗ đôi trai gái đang đứng bên nhau, và đám cưới được diễn ra trang trọng, nhanh chóng một cách vui vẻ. Sau đó, tiếng chuông hân hoan vang lên, một người reo hò vui sướng và chú rể đưa cô dâu về nhà trên lối đi đầy hoa mà bọn trẻ con rải lên.

Đó là cách mà một vì vua bán man rợ dùng để thực thi công lý, sự công bằng ở đây thật rõ ràng. Tội nhân không hề biết trước cánh cửa nào cô gái sẽ bước ra, anh ta sẽ tùy ý mở một cánh cửa mà không biết lối nào sẽ đưa mình lên thiên đàng hay lối nào dẫn mình xuống địa ngục. Những phán quyết này không chỉ công bằng mà còn triệt để. Tội nhân sẽ bị trừng phạt ngay lập tức nếu anh ta quyết định sai lầm, và nếu vô tội, anh sẽ được thưởng ngay lập tức dù anh có thích điều đó hay không. Không ai có thể thoát khỏi phán quyết của nhà vua.

Đó là một thể chế rất phổ biến. Khi dân chúng tụ tập lại với nhau trong những ngày có phiên tòa xét xử, họ không bao giờ biết được mình sẽ chứng kiến một cảnh tượng dã man đẫm máu hay một đám cưới vui nhộn. Yếu tố mơ hồ này đem đến sự hứng thú không gì sánh bằng. Do đó lối chơi này luôn được hoan nghênh, còn những người có suy nghĩ ngược lại cũng không thể chống lại sự xét xử bất công này, vì số phận nằm trong tay tội nhân.

CHƯƠNG 3

Nhà vua có một cô con gái xinh đẹp như hoa, rực rỡ như trí tưởng tượng phong phú của ông, nàng cuồng nhiệt và hống hách như cha mình. Như lẽ thường, nàng là báu vật trong mắt vua cha, vua yêu nàng hơn mọi thứ trên thế gian này. Trong số các cận thần của nhà vua có một chàng trai đem lòng yêu công chúa. Dù xuất thân thấp hèn nhưng chàng là một anh hùng tràn đầy nhiệt huyết, tinh tế và rất lãng mạn. Công chúa rất hài lòng về người trong mộng vì chàng khôi ngô và dũng mãnh hơn tất cả những gã trai trẻ trong vương quốc. Nàng yêu chàng bằng cả trái tim pha một chút man rợ, chính điều đó làm cho tình yêu ấy mãnh liệt và ấm áp hơn. Hạnh phúc của đôi trẻ kéo dài trong nhiều tháng liền cho đến một ngày vua cha phát hiện ra. Ngài không hề đắn đo hay mảy may xem xét trách nhiệm của mình trong chuyện này. Ngay lập tức chàng trai bị tống giam và ngày đưa chàng ra đấu trường xét xử đã được ấn định. Đây tất nhiên là một sự kiện vô cùng quan trọng nên cả nhà vua và dân chúng đều quan tâm đến tiến tình của cuộc hành xử. Trước đây, chuyện như thế chưa bao giờ xảy ra, chưa một thần dân nào dám yêu con gái của đức vua quyền uy. Nhưng nhiều năm trôi qua, chuyện đó đã trở nên cũ rích và chẳng có gì khiến dân chúng phải ngạc nhiên.

Tất cả các chuồng hổ đều được kiểm tra kỹ lưỡng để chọn ra con hổ hung dữ và tàn bạo nhất, vô số những thiếu nữ trẻ trung, xinh đẹp được chọn ra bởi những người am hiểu để chàng trai có được một cô dâu xứng đáng nếu số phận không run rủi chàng đến một kết cục khác. Tất nhiên là mọi người đều biết chuyện đã xảy ra. Chàng yêu công chúa, không phải nàng, không phải chàng cũng không một ai khác bác bỏ sự thật đó. Nhà vua không cho phép bất cứ một sự can thiệp nào xen vào tiến trình của vụ án. Điều đó khiến ông vô cùng thích thú và thỏa mãn. Dù thế nào chăng nữa, chàng trai cũng bị hành xử và đức vua sẽ có một bữa thưởng thức cho thỏa con mắt. Liệu việc đem lòng yêu một nàng công chúa có phải là điều sai trái mà chàng trai đã làm không?

CHƯƠNG 4

Ngày ấn định đã đến. Dân chúng từ khắp nơi xa gần kéo về và tụ tập kín hết các hành lang đấu trường. Còn đám đông không vào được đành phải đứng đối diện bức tường chứa hai cánh cửa giống nhau như đúc. Nhà vua và các cận thần ngồi đối diện hai cánh cửa định mệnh mà sự giống nhau của nó khiến cho người ta phải khiếp sợ.

Tất cả đã sẵn sàng. Hiệu lệnh được phát ra. Môt cánh cửa được mở, người yêu công chúa bước vào đấu trường. Chàng khôi ngô, tuấn tú, được dân chúng chào đón bằng sự mến mộ xen lẫn lo âu. Một nửa trong số khán giả không biết rằng có một con người trẻ tuổi tuyệt vời đến thế đang sống giữa họ. Do đó, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi công chúa yêu chàng! Thật là một điều khủng khiếp khi chàng lại hiên diện nơi đây!

Như thường lệ, chàng trai bước ra đấu trường và cúi đầu chào nhà vua, nhưng chàng trai chẳng nghĩ gì đến nhân vật hoàng tộc ấy. Cặp mắt chàng dính chặt vào công chúa đang ngồi bên phải vua cha. Nếu không có nửa phần man rợ trong bản chất của mình, hẳn nàng đã không có mặt ở đây, nhưng chính tâm hồn đam mê mãnh liệt đã không cho phép nàng vắng mặt trong sự kiện quan trọng này. Kể từ khi bản án được ban ra rằng định mệnh người yêu của nàng sẽ được quyết định trên đấu trường, ngày lẫn đêm nàng không nghĩ gì khác ngoài sự kiện lớn lao ấy và những việc liên quan đến nó. Sở hữu quyền lực, ảnh hưởng và sức mạnh lớn hơn bất kỳ ai khác, nàng đã làm một điều mà không ai có thể làm, đó là biết được bí mật của hai cánh cửa ấy. Nàng biết sau cánh cửa nào có con hổ và cánh nào mở ra sẽ có người con gái đang đợi. Đằng sau cánh cửa nặng nề có một bức tường dày che chắn bên trong để ngăn cản mọi âm thanh hay ám hiệu bên trong làm ảnh hưởng đến quyết định của người tử tù. Nhưng vàng bạc và sức mạnh ý chí của người phụ nữ đã hé mở bí mật cho nàng.

Công chúa không chỉ biết sau cánh cửa nào người con gái ấy sẽ xuất hiện với gương mặt ửng hồng, rạng rỡ mà nàng còn biết người con gái ấy là ai. Phần thưởng cho chàng là một trinh nữ xinh đẹp và quyến rũ nhất trong triều nếu anh ta chứng minh được mình vô tội, và công chúa căm ghét cô ta. Rất nhiều lần nàng bắt gặp hay do nàng tưởng tượng không biết cái nhìn đầy ngưỡng mộ của người thiếu nữ ấy với người yêu của mình; và đôi lúc những cái liếc mắt đưa tình ấy đã được chàng chấp nhận và đáp lại. Thỉnh thoảng nàng thấy họ nói chuyện với nhau, chỉ trong giây lát thôi nhưng họ đã nói với nhau nhiều thứ, nó có thể là những chuyện lặt vặt chẳng chút quan trọng, nhưng làm sao nàng biết được chuyện gì chứ? Cô gái ấy chỉ đáng yêu thôi, sao lại dám liếc mắt nhìn người yêu của công chúa chứ; và, với tất cả dũng cảm của dòng máu hãy còn man rợ đang chảy trong mình, công chúa ghét người con gái đang ửng hồng đôi má và run rẩy sau cánh cửa im lìm lia.

CHƯƠNG 5

Khi người yêu ngoảnh mặt lại và nhìn thấy nàng ngồi đó, ánh mắt chàng và nàng gặp nhau, chàng nhìn thấy khuôn mặt xanh xao nhợt nhạt của nàng giữa một đại dương mênh mông người với khuôn mặt lo lắng; nhờ vào sức mạnh linh cảm của những người đang yêu, chàng nhận ra rằng nàng biết được phía sau cánh cửa ấy, cánh cửa nào có con hổ, cánh cửa nào có cô gái. Chàng hy vọng công chúa biết điều đó. Chàng hiểu tính cách của công chúa, chàng tin chắc nàng sẽ không bao giờ từ bỏ cho đến khi đạt được điều mình muốn, qua mặt tất cả mọi người, kể cả vua cha. Hy vọng duy nhất của chàng trai là công chúa khám phá được bí mật đằng sau hai cánh cửa; vừa thoáng nhìn nàng, chàng đã hiểu ngay là nàng biết.

Sau đó, một cái liếc nhìn thật nhanh đầy lo âu như cầu cứu: “Cánh cửa nào?” Nỗi niềm ấy lộ rõ trong mắt chàng như thể chàng đang gào thét lên không giây phút nào ngơi nghỉ. Câu hỏi được đưa ra trong nháy mắt thì câu trả lời cũng cần phải như thế.

Tay phải nàng đặt trên lan can trước mặt. Nàng giơ tay phải lên, một động tác rất nhanh và nhẹ về phía bên phải. Không ai nhìn thấy ngoài người yêu của nàng. Mọi ánh mắt khác đều hướng về chàng trai đang đứng trên đấu trường.

Chàng quay lại, bước thật nhanh và mạnh mẽ. Mọi trái tim như ngừng đập, mỗi nhịp thở như bị bóp nghẹt, mọi ánh mắt đều dán chặt vào chàng trai một cách bất động. Không một chút do dự, chàng tiến đến cánh cửa bên phải và mở nó ra.

Và bây giờ, mấu chốt của câu chuyện là đây: con hổ hay thiếu nữ ai sẽ ra từ sau cánh cửa?

Càng nghĩ về câu hỏi này, ta càng khó tìm câu trả lời. Nó phụ thuộc vào trái tim con người, thứ đưa chúng ta vào những ngõ ngách của đam mê nhưng rất khó để tìm ra lối thoát. Những độc giả công bằng, hãy suy nghĩ về điều này, câu trả lời dường như không phải phụ thuộc vào bạn, mà nó phụ thuộc vào nàng công chúa có tính cách sôi nổi, nhiệt huyết pha chút dã man kia. Trái tim nàng như bỏng rát dưới ngọn lửa tuyệt vọng và ngọn lửa của ghen tương. Trong tâm tưởng, công chúa đã mất chàng vĩnh viễn nhưng ai sẽ có chàng?

CHƯƠNG 6

Ngày cũng như đêm, đã bao lần nàng phải gào thét lên trong nỗi kinh hoàng và hai tay ôm mặt khóc nức nở khi nghĩ đến cảnh người yêu mình phải đối diện với những nanh vuốt hung tợn của con hổ đói.

Nhưng nhiều lần hơn, nàng thấy chàng ở cánh cửa bên kia. Công chúa chìm ngập trong đau khổ, nàng nghiến răng, vò đầu bức tóc khi thấy chàng hạnh phúc sung sướng cùng thiếu nữ kia. Nàng tan nát cõi lòng khi thấy chàng chạy đến người con gái có đôi má ửng hồng, đôi mắt lấp lánh trong niềm vui chiến thắng. Càng đau đớn hơn khi nàng trông thấy cơ thể chàng run lên trong trong niềm vui tìm lại sự sống khi nghe tiếng hò reo vui mừng tù đám đông và những hồi chuông chúc mừng tưng bừng vang lên.Lòng nàng như siết lại khi nhìn thấy vị linh mục cùng với đoàn tùy tùng tiến đến gần đôi trai gái và tuyên bố cho họ nên vợ chồng ngay trước mắt nàng. Nàng nhìn thấy họ sánh bước bên nhau trên lối đi đầy hoa và trong tiếng chúc tụng vui sướng của đám đông, trong khi chỉ riêng nàng lạc lõng trong tiếng gào thét tuyệt vọng vì đã mất người yêu.

Liệu sẽ tốt hơn khi để chàng chết đi và đợi nàng ở thế giới bên kia.

Nhưng không được, còn con hổ đói, tiếng gào thét, và máu!

Việc ra hiệu chỉ trong khoảnh khắc nhưng quyết định thì nàng đã có sau nhiều đêm ngày suy nghĩ đắn đo trong đau khổ. Nàng biết chàng sẽ hỏi, nàng đã quyết định sẽ trả lời chàng như thế nào, và không chút lưỡng lự, nàng nhích tay sang phải.

Câu hỏi và quyết định trong lòng nàng không phải dễ nhận ra, và tôi không phải là người duy nhất dám cho mình quyền trả lời câu hỏi ấy. Vì thế nên tôi để quyền ấy cho tất cả các bạn. Bước ra từ cánh cửa trên đấu trường: cô gái hay con hổ?

-------------

The Lady Or The Tiger?
By Frank Stockton

In the very olden time there lived a semi-barbaric king, whose ideas, though somewhat polished and sharpened by the progressiveness of distant Latin neighbors, were still large, florid, and untrammeled, as became the half of him which was barbaric. He was a man of exuberant fancy, and, withal, of an authority so irresistible that, at his will, he turned his varied fancies into facts. He was greatly given to self-communing, and, when he and himself agreed upon anything, the thing was done. When every member of his domestic and political systems moved smoothly in its appointed course, his nature was bland and genial; but, whenever there was a little hitch, and some of his orbs got out of their orbits, he was blander and more genial still, for nothing pleased him so much as to make the crooked straight and crush down uneven places.
Among the borrowed notions by which his barbarism had become semified was that of the public arena, in which, by exhibitions of manly and beastly valor, the minds of his subjects were refined and cultured.
But even here the exuberant and barbaric fancy asserted itself. The arena of the king was built, not to give the people an opportunity of hearing the rhapsodies of dying gladiators, nor to enable them to view the inevitable conclusion of a conflict between religious opinions and hungry jaws, but for purposes far better adapted to widen and develop the mental energies of the people. This vast amphitheater, with its encircling galleries, its mysterious vaults, and its unseen passages, was an agent of poetic justice, in which crime was punished, or virtue rewarded, by the decrees of an impartial and incorruptible chance.
When a subject was accused of a crime of sufficient importance to interest the king, public notice was given that on an appointed day the fate of the accused person would be decided in the king's arena, a structure which well deserved its name, for, although its form and plan were borrowed from afar, its purpose emanated solely from the brain of this man, who, every barleycorn a king, knew no tradition to which he owed more allegiance than pleased his fancy, and who ingrafted on every adopted form of human thought and action the rich growth of his barbaric idealism.
When all the people had assembled in the galleries, and the king, surrounded by his court, sat high up on his throne of royal state on one side of the arena, he gave a signal, a door beneath him opened, and the accused subject stepped out into the amphitheater. Directly opposite him, on the other side of the enclosed space, were two doors, exactly alike and side by side. It was the duty and the privilege of the person on trial to walk directly to these doors and open one of them. He could open either door he pleased; he was subject to no guidance or influence but that of the aforementioned impartial and incorruptible chance. If he opened the one, there came out of it a hungry tiger, the fiercest and most cruel that could be procured, which immediately sprang upon him and tore him to pieces as a punishment for his guilt. The moment that the case of the criminal was thus decided, doleful iron bells were clanged, great wails went up from the hired mourners posted on the outer rim of the arena, and the vast audience, with bowed heads and downcast hearts, wended slowly their homeward way, mourning greatly that one so young and fair, or so old and respected, should have merited so dire a fate.
<>
But, if the accused person opened the other door, there came forth from it a lady, the most suitable to his years and station that his majesty could select among his fair subjects, and to this lady he was immediately married, as a reward of his innocence. It mattered not that he might already possess a wife and family, or that his affections might be engaged upon an object of his own selection; the king allowed no such subordinate arrangements to interfere with his great scheme of retribution and reward. The exercises, as in the other instance, took place immediately, and in the arena. Another door opened beneath the king, and a priest, followed by a band of choristers, and dancing maidens blowing joyous airs on golden horns and treading an epithalamic measure, advanced to where the pair stood, side by side, and the wedding was promptly and cheerily solemnized. Then the gay brass bells rang forth their merry peals, the people shouted glad hurrahs, and the innocent man, preceded by children strewing flowers on his path, led his bride to his home.
This was the king's semi-barbaric method of administering justice. Its perfect fairness is obvious. The criminal could not know out of which door would come the lady; he opened either he pleased, without having the slightest idea whether, in the next instant, he was to be devoured or married. On some occasions the tiger came out of one door, and on some out of the other. The decisions of this tribunal were not only fair, they were positively determinate: the accused person was instantly punished if he found himself guilty, and, if innocent, he was rewarded on the spot, whether he liked it or not. There was no escape from the judgments of the king's arena.
The institution was a very popular one. When the people gathered together on one of the great trial days, they never knew whether they were to witness a bloody slaughter or a hilarious wedding. This element of uncertainty lent an interest to the occasion which it could not otherwise have attained. Thus, the masses were entertained and pleased, and the thinking part of the community could bring no charge of unfairness against this plan, for did not the accused person have the whole matter in his own hands?
<>
This semi-barbaric king had a daughter as blooming as his most florid fancies, and with a soul as fervent and imperious as his own. As is usual in such cases, she was the apple of his eye, and was loved by him above all humanity. Among his courtiers was a young man of that fineness of blood and lowness of station common to the conventional heroes of romance who love royal maidens. This royal maiden was well satisfied with her lover, for he was handsome and brave to a degree unsurpassed in all this kingdom, and she loved him with an ardor that had enough of barbarism in it to make it exceedingly warm and strong. This love affair moved on happily for many months, until one day the king happened to discover its existence. He did not hesitate nor waver in regard to his duty in the premises. The youth was immediately cast into prison, and a day was appointed for his trial in the king's arena. This, of course, was an especially important occasion, and his majesty, as well as all the people, was greatly interested in the workings and development of this trial. Never before had such a case occurred; never before had a subject dared to love the daughter of the king. In after years such things became commonplace enough, but then they were in no slight degree novel and startling.
The tiger-cages of the kingdom were searched for the most savage and relentless beasts, from which the fiercest monster might be selected for the arena; and the ranks of maiden youth and beauty throughout the land were carefully surveyed by competent judges in order that the young man might have a fitting bride in case fate did not determine for him a different destiny. Of course, everybody knew that the deed with which the accused was charged had been done. He had loved the princess, and neither he, she, nor any one else, thought of denying the fact; but the king would not think of allowing any fact of this kind to interfere with the workings of the tribunal, in which he took such great delight and satisfaction. No matter how the affair turned out, the youth would be disposed of, and the king would take an aesthetic pleasure in watching the course of events, which would determine whether or not the young man had done wrong in allowing himself to love the princess.
<>
The appointed day arrived. From far and near the people gathered, and thronged the great galleries of the arena, and crowds, unable to gain admittance, massed themselves against its outside walls. The king and his court were in their places, opposite the twin doors, those fateful portals, so terrible in their similarity.
All was ready. The signal was given. A door beneath the royal party opened, and the lover of the princess walked into the arena. Tall, beautiful, fair, his appearance was greeted with a low hum of admiration and anxiety. Half the audience had not known so grand a youth had lived among them. No wonder the princess loved him! What a terrible thing for him to be there!
As the youth advanced into the arena he turned, as the custom was, to bow to the king, but he did not think at all of that royal personage. His eyes were fixed upon the princess, who sat to the right of her father. Had it not been for the moiety of barbarism in her nature it is probable that lady would not have been there, but her intense and fervid soul would not allow her to be absent on an occasion in which she was so terribly interested. From the moment that the decree had gone forth that her lover should decide his fate in the king's arena, she had thought of nothing, night or day, but this great event and the various subjects connected with it. Possessed of more power, influence, and force of character than any one who had ever before been interested in such a case, she had done what no other person had done - she had possessed herself of the secret of the doors. She knew in which of the two rooms, that lay behind those doors, stood the cage of the tiger, with its open front, and in which waited the lady. Through these thick doors, heavily curtained with skins on the inside, it was impossible that any noise or suggestion should come from within to the person who should approach to raise the latch of one of them. But gold, and the power of a woman's will, had brought the secret to the princess.
And not only did she know in which room stood the lady ready to emerge, all blushing and radiant, should her door be opened, but she knew who the lady was. It was one of the fairest and loveliest of the damsels of the court who had been selected as the reward of the accused youth, should he be proved innocent of the crime of aspiring to one so far above him; and the princess hated her. Often had she seen, or imagined that she had seen, this fair creature throwing glances of admiration upon the person of her lover, and sometimes she thought these glances were perceived, and even returned. Now and then she had seen them talking together; it was but for a moment or two, but much can be said in a brief space; it may have been on most unimportant topics, but how could she know that? The girl was lovely, but she had dared to raise her eyes to the loved one of the princess; and, with all the intensity of the savage blood transmitted to her through long lines of wholly barbaric ancestors, she hated the woman who blushed and trembled behind that silent door.
<>
When her lover turned and looked at her, and his eye met hers as she sat there, paler and whiter than any one in the vast ocean of anxious faces about her, he saw, by that power of quick perception which is given to those whose souls are one, that she knew behind which door crouched the tiger, and behind which stood the lady. He had expected her to know it. He understood her nature, and his soul was assured that she would never rest until she had made plain to herself this thing, hidden to all other lookers-on, even to the king. The only hope for the youth in which there was any element of certainty was based upon the success of the princess in discovering this mystery; and the moment he looked upon her, he saw she had succeeded, as in his soul he knew she would succeed.
Then it was that his quick and anxious glance asked the question: "Which?" It was as plain to her as if he shouted it from where he stood. There was not an instant to be lost. The question was asked in a flash; it must be answered in another.
Her right arm lay on the cushioned parapet before her. She raised her hand, and made a slight, quick movement toward the right. No one but her lover saw her. Every eye but his was fixed on the man in the arena.
He turned, and with a firm and rapid step he walked across the empty space. Every heart stopped beating, every breath was held, every eye was fixed immovably upon that man. Without the slightest hesitation, he went to the door on the right, and opened it.
Now, the point of the story is this: Did the tiger come out of that door, or did the lady ?
The more we reflect upon this question, the harder it is to answer. It involves a study of the human heart which leads us through devious mazes of passion, out of which it is difficult to find our way. Think of it, fair reader, not as if the decision of the question depended upon yourself, but upon that hot-blooded, semi-barbaric princess, her soul at a white heat beneath the combined fires of despair and jealousy. She had lost him, but who should have him?
<>
How often, in her waking hours and in her dreams, had she started in wild horror, and covered her face with her hands as she thought of her lover opening the door on the other side of which waited the cruel fangs of the tiger!
But how much oftener had she seen him at the other door! How in her grievous reveries had she gnashed her teeth, and torn her hair, when she saw his start of rapturous delight as he opened the door of the lady! How her soul had burned in agony when she had seen him rush to meet that woman, with her flushing cheek and sparkling eye of triumph; when she had seen him lead her forth, his whole frame kindled with the joy of recovered life; when she had heard the glad shouts from the multitude, and the wild ringing of the happy bells; when she had seen the priest, with his joyous followers, advance to the couple, and make them man and wife before her very eyes; and when she had seen them walk away together upon their path of flowers, followed by the tremendous shouts of the hilarious multitude, in which her one despairing shriek was lost and drowned!
Would it not be better for him to die at once, and go to wait for her in the blessed regions of semi-barbaric futurity?
And yet, that awful tiger, those shrieks, that blood!
Her decision had been indicated in an instant, but it had been made after days and nights of anguished deliberation. She had known she would be asked, she had decided what she would answer, and, without the slightest hesitation, she had moved her hand to the right.
The question of her decision is one not to be lightly considered, and it is not for me to presume to set myself up as the one person able to answer it. And so I leave it with all of you: Which came out of the opened door - the lady, or the tiger?

Group members:
1. NGUYỄN THỊ MƯỜI
2. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG MAI
3. VƯƠNG THỊ HỒNG
4. VŨ THỊ HÒA

Instructor: Doctoral Candidate Pham Vu Phi Ho

Soapy trằn trọc trên chiếc ghế trong quảng trường Madison. Khi những con ngỗng trời kêu vang trong đêm khuya thanh vắng, khi những người phụ nữ không có áo khoác lông thú tỏ ra dịu dàng với chồng mình, và khi Soapy trằn trọc trên chiếc ghế trong quảng trường Madison, bạn có thể biết rằng mùa đông đang đến rất gần.

Bất chợt, một chiếc lá vàng rơi vào lòng Soapy. Đó là bức thông điệp của chị Sương Muối. Chị rất tử tế với những cư dân quen thuộc của Quãng trường Madison và luôn dịu dàng báo trước cho họ cuộc viếng thăm hàng năm của mình. Tại các ngã tư đường phố, chị trao nó cho anh Gió Bấc, người hầu của lâu đài Ngàn sao, để cho tất cả những cư dân ở đó chuẩn bị chào đón.

Soapy bắt đầu nhận thức rằng đã đến lúc anh phải tìm cho mình một giải pháp để chống lại mùa đông khắc nghiệt đang tới. Vì thế anh trăn trở trên chiếc ghế dài. Khát vọng tìm một nơi trú đông của Soapy không phải là một điều quá cao sang. Anh không mơ tới một chuyến du ngoạn ở Địa Trung Hải, cũng chẳng màng tới những ngày lênh đênh trên Vịnh Vesuvian dưới bầu trời phương Nam êm ả. Ba tháng ở trên Đảo là tất cả những gì anh khao khát. Ba tháng được đảm bảo về nơi ăn, chốn ở, có bạn bè ăn ý, thoát khỏi giá rét của mùa đông và những viên cảnh sát dường như là ước mơ lớn nhất của Soapy.

Bao năm qua, hòn đảo Blackwell mến khách đã trở thành nơi trú đông quen thuộc của anh. Mỗi khi đông về, khi những người bạn New York may mắn hơn đã mua vé đi bãi biển Palm và Riveria thì Soapy lại loay hoay nghĩ cách kiếm cho mình một tấm vé lên Đảo. Và bây giờ thời khắc đó đã đến. Đêm hôm trước, khi nằm ngủ trên chiếc ghế cạnh vòi phun nước trong quãng trường cổ kính, dù đã phải chia ba tờ báo Chủ nhật ra lót dưới áo khoác, quanh mắt cá chân và thắt lưng, thế nhưng anh vẫn không thể nào tránh khỏi cái lạnh. Đúng lúc đó, hòn Đảo hiện lên sừng sững trong tâm trí anh. Soapy khinh bỉ những của bố thí trên danh nghĩa lòng từ thiện dành cho những người được trợ cấp trong thành phố. Đối với anh, Luật pháp còn êm ái hơn lòng từ thiện. Anh có thể dễ dàng xin được bữa ăn đạm bạc, chỗ ở tạm bợ ở vô số hội, viện và ban từ thiện. Thế nhưng, đối với lòng kiêu hãnh của anh thì “ của cho là của nợ!”. Mỗi ân huệ nhận được từ bàn tay từ thiện, ta đều phải trả, nếu không trả được bằng tiền thì bằng chính lòng tự trọng của mình.

Giống như Ceasar có Brutus, mỗi chiếc giường từ thiện đều phải đổi bằng lòng tự trọng, mỗi ổ bánh mì nhận được đều phải trả bằng sự soi mói cá nhân. Vì vậy tốt hơn hết là hãy làm một vị khách của Luật pháp. Dù luật lệ có khắt khe đến đâu thì cũng chẳng bao giờ can thiệp vào chuyện riêng tư của một người tử tế.

Khi đã quyết định đi ra Đảo, Soapy liền nghĩ cách thực hiện ước muốn của mình. Cũng chẳng phải khó khăn gì. Cách dễ chịu nhất là ăn một bữa thịnh soạn trong một nhà hàng sang trọng, và rồi, sau khi đã tỏ rõ là không có tiền trả, ắt hẳn anh sẽ được dẫn tới cảnh sát mà không có bất cứ phản ứng gì. Một vị quan tòa thạo việc sẽ làm nốt việc còn lại.

Soapy rời chiếc ghế, ra khỏi quãng trường và đi băng qua một ngã tư rải nhựa rộng thênh thang nằm giữa Đại lộ Broadway và Đại lộ 5. Anh rẽ lên hướng Đại lộ Broadway và dừng lại trước một quán cà phê rực rỡ ánh đèn. Đây là nơi đêm đêm hội tụ những của ngon vật lạ, sơn hào hải vị và lụa là gấm vóc.

Soapy cảm thấy tự tin từ chiếc khuy thấp nhất của cái áo vest anh đang mặc trở lên. Anh đã cạo râu, mặc chiếc áo khoác khá tươm tất, mang chiếc nơ đen kiểu thắt sẵn – món quà đó là của một nữ tu tặng cho anh vào dịp Lễ Tạ ơn. Nếu anh có thể ngồi vào được một bàn trong cái nhà hàng kia thì mọi chuyện xem như là thành công. Những món ăn được dọn ra trên bàn tất nhiên sẽ chẳng làm người phục vụ nghi ngờ gì được. Soapy thầm nhủ: “một con vịt trời quay quả là món ăn phù hợp, cùng với một chai Chablis, kế đến là pho-mát Camenbert, một tách cà phê và một điếu xì gà. Điếu xì gà chắc là phải đáng giá một đôla. Tổng số tiền chắc sẽ không quá lớn để làm ông chủ nhà hàng phải bận tâm, nhưng bữa ăn ắt sẽ làm anh no nê và thoải mái trong suốt cuộc hành trình đi đến nơi trú đông.

Thế nhưng, ngay khi Soapy vừa bước chân qua ngưỡng cửa nhà hàng, người trưởng nhóm hầu bàn để mắt ngay đến cái quần đã sờn và đôi giày cũ kĩ của anh. Và thế là trong chốc lát, những bàn tay mạnh mẽ xoay người anh lại và đẩy anh trở lại vỉa hè lạnh lẽo.Cuối cùng con vịt trời khốn khổ đã may mắn thoát khỏi số phận hẩm hiu.

Soapy rẽ ra khỏi Đại lộ Broadway. Có vẻ như con đường đến hòn Đảo mơ ước sẽ chẳng mấy êm ả và dễ dàng. Anh đành phải nghĩ cách khác.

Ngay góc Đại lộ 6, một cửa hàng trông thật bắt mắt với ánh điện lấp lánh và những món hàng được trưng bày khéo léo trong những chiếc tủ kính. Soapy nhặt một hòn đá và ném mạnh vào cửa kính. Một đám người chạy tới, dẫn đầu là một viên cảnh sát. Soapy vẫn đứng yên, hai tay đút túi quần, mỉm cười nhìn những chiếc khuy áo bằng đồng lấp lánh.

Viên cảnh sát cau có hỏi:
“Người đập vỡ kính đâu rồi?”
“Ông không nghĩ là tôi cũng có liên quan đến việc này chứ?”
Soapy hỏi lại, giọng mỉa mai nhưng cũng không kém phần thân thiện, tựa như một người chào đón vận may đang tới.

Tuy nhiên, lý trí của viên cảnh sát không cho phép anh coi Soapy là một kẻ tình nghi, thậm chí chỉ là một manh mối. Những kẻ đập vỡ kính nhà người khác sẽ chẳng đời nào đứng lại mà đôi co với người thừa hành luật pháp, chúng sẽ chuồn ngay lập tức. Viên cảnh sát chợt trông thấy một người đàn ông đang đuổi theo một chiếc xe ở giữa đường, anh liền rút dùi cui chạy theo. Sau hai lần thất bại, Soapy tức tối bỏ đi.

Phía bên kia đường có một quán ăn bình dân. Nó có vẻ thích hợp với những người háu ăn nhưng có ít tiền; bát đĩa thì dày nhưng khăn lau lại mỏng; căn phòng chật ních người nhưng súp lại quá loãng. Ở nơi này, Soapy có thể mang đôi giày đã mòn và cái quần bạc phếch mà không gặp bất kì một trở ngại nào. Anh ngồi vào bàn và ăn hết từ bít-tết, bánh nướng đến bánh phồng rồi bánh chả. Ăn xong, anh thú thực với người hầu bàn là mình không cón một xu dính túi.

Soapy nói: “Bây giờ thì có việc cho anh rồi đấy, đi gọi cảnh sát đi, đừng để một người tử tế phải đợi lâu!”
“Với anh bạn thì chẳng cần cảnh sát đâu!” Người bồi bàn đáp, giọng ngọt như mía lùi và ánh mắt tươi như quả anh đào trong ly cocktail Mahattan.
“Ê, Con! Đến đây!”

Rất nhẹ nhàng, hai người bồi bàn quẳng Soapy ra khỏi cửa, làm anh ngã sấp xuống vỉa hè lạnh giá. Anh từ từ đúng lên, duỗi từng khớp xương giống như người thợ mộc mở cái thước gấp, và phủi lớp bụi dính trên quần áo. Việc bị bắt tựa hồ một giấc mộng phù du, hòn đảo dường như quá xa vời đối với anh. Cách đó hai dãy nhà, một viên cảnh sát đang đứng trước một quầy thuốc, mỉm cười và đi về phía cuối con đường.

Đi qua năm dãy nhà, Soapy mới lấy lại được can đảm để tiếp tục theo đuổi giấc mơ của mình. Lần này cơ hội lại đến và anh chủ quan cho là “dễ ợt”. Một phụ nữ trẻ, vẻ ngoài giản dị đang đứng trước một tủ kính, dán mắt vào những cái cốc đựng xà phòng cạo râu và những cái bình đựng mực được trưng bày khéo léo bên trong. Cách cái tủ hai thước là một viên cảnh sát to cao, có vẻ nghiêm khắc, đang đứng tựa vào cái ống nước.

Soapy định vào vai “một tay cua gái” bỉ ổi. Dáng vẻ chải chuốt, cử chỉ tao nhã của cô gái và sự có mặt của một viên cảnh sát tận tâm khiến anh tin rằng mình sẽ sớm cảm nhận được cái còng tay êm ả của chính quyền. Nó sẽ đảm bảo cho anh một chỗ trú đông ngay trên hòn đảo ấy, một nơi nhỏ bé đến chật hẹp.

Soapy kéo cho thẳng cái nơ, xắn cao cái tay áo nhăn nhúm, kéo chiếc mũ xếch qua một bên và khép nép đi về phía người phụ nữ trẻ. Soapy liếc thấy viên cảnh sát đang chằm chằm nhìn mình, anh giả vờ nháy mắt đưa tình với cô, đột nhiên đằng hắng, cười làm duyên và rồi cố gắng dở đủ trò đê tiện và trơ trẽn của "một tay cua gái”. Cô gái bước vài bước rồi lại tiếp tục chăm chú nhìn vào những cái cốc đựng xà phòng cạo râu. Soapy đi theo, bạo dạn bước tới sát cô, hếch mũ lên và nói:
-A, Bedilia! Em có muốn đến nhà tôi chơi không?

Viên cảnh sát vẫn chăm chú dõi theo. Chỉ cần người phụ nữ trẻ bị chọc ghẹo vẫy ngón tay một cái là Soapy sẽ lên đường tới hòn đảo mơ ước ấy. Anh tưởng như đã cảm nhận được sự ấm áp, thoải mái trong đồn cánh sát.

Cô nhìn và giơ tay níu lấy ống tay áo anh, vui vẻ đáp: “Chắc chắn rồi Mike ạ, nếu anh mời em một chầu rượu. Em định gọi anh sớm hơn cơ, nhưng ông cảnh sát cứ dòm ngó.”

Cô gái cứ thế bám lấy Soapy như dây thường xuân bám vào thân cây sồi. Soapy đi ngang qua viên cảnh sát với vẻ mặt thiểu não . Dường như số phận đã an bài cho anh được tự do.

Tới góc phố, Soapy giãy khỏi cô bạn gái và chạy đi. Anh dừng lại ở khu phố tiếp theo. Ban đêm, đường phố nơi đây rực rỡ nhất với những trái tim, những lời thề và những bản nhạc kịch êm dịu.

Những người phụ nữ khoác áo lông thú và những người đàn ông mặc áo bành tô đang đi lại vui vẻ trong tiết đông lạnh giá. Bất chợt, Soapy cảm giác như có một thế lực đáng sợ ngăn cản làm cho anh không thể bị bắt. Ý nghĩ đó khiến anh thoáng có chút hoảng sợ. Khi trông thấy một người cảnh sát đang đi lại trước một rạp hát sáng trưng, anh chợt nghĩ tới hành vi “làm mất trật tự nơi công cộng”.

Soapy đứng trên vỉa hè, bắt đầu la hét, nói lắp bắp như kẻ say rượu bằng cái giọng khàn khàn của mình. Anh nhảy nhót, gào thét, quậy phá, làm náo động cả khu vực đó.

Viên cảnh sát xoay cái dùi cui, quay lưng về phía Soapy và kể với một người dân: “Đó là một người hâm mộ đội Yale đang reo mừng trận thắng trước đội trường đại học Halfoxd. Họ đã cho đội kia xơi trứng ngỗng. Tuy có chút ồn ào nhưng vô hại. Chúng tôi đã được chỉ thị là cứ để mặc họ.”

Chán nản và thất vọng, Soapy ngừng ngay trò la hét vô ích. Cảnh sát sẽ chẳng bao giờ tóm mình ư? Anh có cảm tưởng hòn Đảo chỉ là một thiên đường không sao với tới được. Anh cài lại khuy của chiếc áo mỏng để ngăn gió lạnh.

Ở một tiệm bán xì gà, anh trông thấy một người đàn ông ăn mặc lịch sự, tươm tất đang châm điếu thuốc, ánh lửa lập lòe. Cái ô bằng lụa của ông ta dựng ngay cạnh cửa ra vào. Soapy bước vào trong, cầm cái ô lên và chậm rãi bước ra. Người đàn ông đang châm thuốc vội vã chạy theo. Khi bắt kịp Soapy, ông nghiêm giọng nói:

“ Cái ô đó của tôi!”
“ Ồ, cái này hả?” Soapy nhạo báng, kèm chút thóa mạ thói ăn cắp vặt. “Đúng rồi đấy! Chiếc ô là của ông! Tôi đã ăn cắp nó đấy. Sao ông không gọi cảnh sát đi? Có một người đứng ở ngay góc phố kia kìa. Sao không gọi đi?”
Chủ nhân chiếc ô bước chậm lại. Soapy cũng chậm bước theo. Linh cảm mách bảo anh rằng vận may sẽ một lần nữa chạy trốn mình. Viên cảnh sát vẫn tò mò nhìn họ.

Cuối cùng, ông ta nói: “Tất nhiên, đó là…à, anh biết là cũng có những sự nhầm lẫn xảy ra. Tôi…Nếu đó là ô của anh, tôi mong anh bỏ qua…Tôi nhặt được nó trong một tiệm ăn sáng nay…Nếu anh nhận ra đó là cái ô của anh, tại sao…Tôi mong anh sẽ…?”

“Tất nhiên là của tôi.” Soapy dõng dạc đáp.

Ông ta bỏ đi. Viên cảnh sát cũng vội vã chạy đến giúp một người phụ nữ cao lớn, tóc hoe vàng, mặc đồ biểu diễn nhạc kịch, đang băng qua đường, ngay trước một chiếc xe điện đang tiến đến cách đó hai dãy nhà.

Soapy đi về phía đông, ngang qua một con đường bị đào tung lên để sửa chữa. Anh giận dữ quẳng chiếc ô vào một cái hố bên đường và lẩm bẩm chửi rủa những kẻ đội mũ sắt, mang dùi cui bởi lẽ anh muốn rơi vào tay họ nhưng họ lại dửng dưng coi anh như một ông vua không bao giờ làm điều gì sai trái.

Cuối cùng Soapy tới một trong những đại lộ yên tĩnh ở phía đông, nơi ánh sáng lờ mờ, âm thanh yếu ớt. Anh quay mặt về phía quãng trường Madison, vì bản năng hướng về nhà vẫn còn tồn tại ngay cả khi “nhà” chỉ là một chiếc ghế trong công viên.

Bỗng anh đứng sững lại nơi một góc phố yên tĩnh lạ thường. Nơi đó có một ngôi nhà thờ cổ kính, kì dị và cô lập. Khung cửa sổ màu tím tỏa ra một thứ ánh sáng lờ mờ. Chắc chắn bên trong là một nhạc công đang lướt ngón tay trên những phím dương cầm, dạo bản thánh ca cho ngày chủ nhật sắp tới.

Bản nhạc êm ái lọt vào tai Soapy, gắn chặt anh vào hàng rào sắt uốn thành hình hoa.

Trên cao, vầng trăng tỏa ánh sáng dịu dàng, thanh khiết; ngoài phố, người xe qua lại thưa thớt; dưới mái hiên, những chú chim sẻ hót líu lo. Trong khoảnh khắc, nơi đây giống như một nghĩa địa miền quê. Bản thánh ca mà người nhạc công đang chơi vẫn dính chặt Soapy vào hàng rào sắt. Anh đã nghe nó từ những ngày mà cuộc đời anh còn có mẹ và hoa hồng, tham vọng và bạn bè, những ý nghĩ trong sáng và những chiếc cổ áo sạch sẽ.

Tâm trạng thoải mái của Soapy hòa với vẻ cổ kính của nhà thờ đã tạo ra trong lòng anh một sự thay đổi đột ngột và kì lạ. Soapy thoáng kinh sợ khi trông thấy cái vực thẳm mà mình đã rơi xuống, những tháng ngày nhục nhã, những ước muốn tầm thường, những hi vọng đã chết, những năng lực tiêu tan, những động cơ thấp hèn đã tạo nên cuộc đời mình.

Và cũng đúng lúc đó, cõi lòng Soapy rung động trước trạng thái tâm hồn mới lạ này. Một sức mạnh mãnh liệt thôi thúc anh chống lại số phận nghiệt ngã. Anh sẽ thoát khỏi vũng lầy và làm lại cuộc đời. Anh sẽ chiến thắng cái xấu đang ngự trị trong con người mình. Vẫn còn kịp, anh vẫn còn khá trẻ, anh sẽ làm sống lại những khát vọng ngày xưa, quyết tâm theo đuổi chúng đến cùng và không bao giờ chùn bước. Những nốt nhạc nghiêm trang nhưng êm ái đã dấy lên trong lòng anh một cuộc đấu tranh. Ngày mai anh sẽ vào thành phố - vốn lúc nào cũng nhộn nhịp, để tìm việc làm. Trước đây, một người làm nghề nhập khẩu lông thú đã dành cho anh một chân lái xe. Ngày mai anh sẽ đi tìm ông và xin lại vị trí đó. Anh sẽ trở thành một ai đó trong thế giới này. Anh sẽ…

Soapy chợt cảm thấy một cánh tay đang nắm lấy tay mình. Anh nhìn quanh và bắt gặp cái mặt bè bè của một viên cảnh sát. Ông ta hỏi:
“Anh đang làm gì ở đây?”
“Không gì cả…” Soapy đáp.
“Thế thì đi theo tôi” Viên cảnh sát ra lệnh.
“Ba tháng tù giam trên đảo!” vị quan tòa tuyên án tại phiên tòa vào sáng hôm sau.

GVHD: Doctoral Candidate PHẠM VŨ PHI HỔ
NHÓM BIÊN DỊCH:
1. Lê Thị Kim Hoa
2. Huỳnh Quốc Huy
3. Nguyễn Đức Khánh
4. Hồ Thị Mỹ Ly

Phía trên cao của thành phố là bức tượng của một chàng Hoàng tử Hạnh phúc. Bức tượng Hoàng tử được dát bằng vàng lá, đôi mắt chàng là hai viên đá ngọc bích rực rỡ, và một viên hồng ngọc lớn tỏa sáng trên cán thanh gươm của chàng.

Người ta thật sự rất ngưỡng mộ Hoàng tử. ‘Chàng đẹp như một tuyệt tác nghệ thuật’, một trong những hội viên của hội đồng thành phố nhận xét, với mong ước rằng danh tiếng sẽ nhỉnh lên ít nhiều nhờ vào khiếu nghệ thuật của mình; ‘nhưng chỉ hơi không được hữu dụng cho lắm thôi,’ ông ấy nói thêm, vì sợ mọi người sẽ nghĩ rằng mình không thực tế, điều mà thực sự không có ở ông ấy.

‘Tại sao con lại không được như chàng Hoàng tử Hạnh phúc ấy nhỉ?’một người mẹ đã nhã nhặn hỏi cậu con trai của mình như thế khi cậu bé khóc nằng nặc đòi bằng được vầng trăng. ‘Chàng Hoàng tử Hạnh phúc không bao giờ khóc đòi bất cứ điều gì cả.’

Một người đàn ông với vẻ đầy thất vọng nhìn chăm chú vào bức tượng tuyệt đẹp đó và khẽ nói, ‘Thật vui vì vẫn còn có ai đó trên thế giới này đang hạnh phúc’

“ Hoàng tử trông như một thiên thần.” Bọn trẻ của hội từ thiện nói như vậy khi chúng bước ra từ nhà thờ trong những chiếc áo choàng sạch tinh tươm và đỏ thắm.

Thầy giáo toán học hỏi: “ Sao các con biết? Các con đã bao giờ nhìn thấy thiên thần đâu.”

Bọn trẻ trả lời: “ Dạ, nhưng tụi con đã thấy trong những giấc mơ thầy ạ”. Thầy giáo cau mày trông có vẻ rất nghiêm nghị bởi ông không tán thành với những điều mơ tưởng ấy của bọn trẻ.

Một đêm nọ, một chú chim Nhạn bay qua thành phố này. Những chú chim khác trong đàn đã bay tới Ai Cập sáu tuần trước rồi nhưng chú chim vẫn còn đang ở lại phía sau bởi Nhạn đã trót yêu nàng Lau Sậy xinh đẹp nhất. Cậu đã gặp cô ấy vào đầu mùa xuân trong lúc bay dọc dòng sông phía sau một nàng bướm đêm màu vàng. Quá cuốn hút bởi thân hình mảnh khảnh của nàng Lau Sậy, cậu ấy đã dừng lại để bắt chuyện với nàng.

Muốn đi thẳng vào vấn đề luôn, chim Nhạn đã hỏi: “Tôi yêu em được chứ?”, Nàng Lau Sậy khẽ gật đầu. Cậu bay vòng quanh nàng, chạm đôi cánh xuống mặt nước làm gợn sóng lăn tăn. Giai đoạn tìm hiểu của cậu kéo dài cả mùa hè.

Những chú nhạn khác lại nói rằng: “Thật là một cuộc tình lố bịch. Cô ta chẳng có tiền mà lại có quá nhiều mối quan hệ.” Mà thật sự là có rất nhiều lau sậy ở dòng sông này. Rồi sau đó, khi mùa thu đến thì chúng đều biến mất hết cả.

Sau khi đàn nhạn bay đi hết, cậu Nhạn cảm thấy cô đơn và chán cô người yêu của mình. Cậu ta nói rằng: “Nàng ta chẳng nói chuyện gì cả và tôi e rằng nàng là cô gái đỏm dáng vì lúc nào nàng cũng đùa giỡn với làn gió cả.” Và hiển nhiên là mỗi khi gió thổi qua, đám lau sậy dều khẽ nhún đầu gối cúi chào một cách duyên dáng nhất. Cậu ta nói tiếp: “ Tôi thừa nhận là cô ấy chỉ thích quanh quẩn ở đây thôi, nhưng tôi thì lại thích đi đây đó, nên vợ của tôi cũng sẽ là người thích du ngoạn.”

Cuối cùng cậu ta hỏi: “ Em sẽ đi cùng anh chứ?” nhưng nàng lau sậy lắc đầu, cô ấy đã quá gắn bó với gia đình mình.

Cậu ta la lên: “ Với tôi, cô chẳng là gì cả. Tôi sẽ đi khỏi đây và bay đến những kim tự tháp. Tạm biệt!”. Và rồi chim Nhạn bay đi.

Cậu bay cả ngày dài và đến thành phố vào chập tối. “ Mình sẽ ở đâu đây? Hi vọng rằng thành phố đã có sự chuẩn bị trước dành cho mình.” cậu ta nói.

Rồi Nhạn nhìn thấy bức tượng trên một cột cao. Cậu nói: “ Mình sẽ ngã lưng ở đó. Đó là một vị trí tốt để tận hưởng không khí trong lành.” Và cậu đậu giữa hai chân Hoàng tử.

Vừa nhìn xung quanh, cậu ta khẽ nói thầm: “Ôi! mình có phòng ngủ bằng vàng.” Và cậu chuẩn bị chợp mắt. Nhưng ngay khi cậu gối đầu lên đôi cánh mình thì một giọt nước lớn rớt xuống người cậu. Cậu ta la lên: “ Cái quái gì thế nhỉ?. Trời chẳng gợn chút mây, sao thì sáng, mà lại mưa à? Khí hậu ở Bắc Âu thật kinh khủng. Đám lau sậy thích mưa nhưng đó chỉ là tính ích kỉ của họ mà thôi.”

Một giọt nước nữa lại rơi xuống.

Cậu ta nói: “ Bức tượng này dùng làm cái quái gì mà lại chẳng ngăn được mưa là sao? Mình cần phải đi tìm một ống khói tốt thôi.” Và cậu quyết định bay đi.

Nhưng trước khi dang đôi cánh, giọt nước thứ ba tiếp tục rơi xuống, cậu ta ngước nhìn lên và thấy- Ôi, cậu ta đã thấy gì?

Đôi mắt Hoàng tử Hạnh phúc giàn giụa nước mắt. Những giọt nước mắt đang rơi xuống đôi má bằng vàng. Gương mặt Hoàng tử tuyệt đẹp dưới ánh trăng đến nỗi khiến cho cậu ấy động lòng trắc ẩn.

Chim Nhạn hỏi: “ Anh là ai vậy?”
“Tôi là Hoàng tử Hạnh phúc.”

Nhạn hỏi tiếp: “ Sao anh lại khóc? Anh làm ướt người tôi đấy!”

Bức tượng trả lời: “ Khi tôi còn sống và có trái tim của một con người, tôi không bao giờ khóc bởi vì lúc ấy tôi sống trong cung điện Sans- Souci. Đó là nơi không có sự khổ đau. Ban ngày tôi chơi với bạn bè trong khu vườn. Buổi tối tôi là người mở đầu vũ hội ở đại sảnh. Có một bờ tường cao ngất bao quanh khu vườn và tôi chẳng bao giờ quan tâm có điều gì ở phía sau bờ tường đó. Mọi thứ với tôi thật quá đỗi đẹp đẽ. Những cận thần của tôi gọi tôi là Hoàng tử Hạnh phúc. Và nếu như sự sung sướng là hạnh phúc thì thật sự là tôi đã rất hạnh phúc. Tôi đã sống, và rồi tôi cũng chết đi. Giờ thì tôi đã ra đi, nhưng người ta vẫn đặt tôi ở một nơi cao như thế này, và tôi trông thấy hết những đau khổ, những điều tồi tệ nhất ở thành phố của tôi. Trái tim tôi bằng chì, tôi không thể làm gì hơn ngoài việc than khóc.”

Cậu nhạn nhủ thầm: “ Cái gì? Anh ta không phải toàn làm bằng vàng sao?” Lịch sự nên cậu ta không nói to nhận xét của riêng mình ấy.

Bức tượng khẽ nói tiếp: “ Ở đằng xa kia , trong con hẻm nhỏ, có một ngôi nhà rất nghèo. Qua khung cửa sổ mở toang, tôi thấy một người phụ nữ đang ngồi bên chiếc bàn. Gương mặt bà ấy gầy guộc và khắc khổ. Đôi bàn tay đỏ và thô bởi những vết kim đâm vì bà ta là một người thợ may. Bà ấy đang thêu những đóa hoa tươi thắm trên một chiếc áo choàng sa-tanh để cô phụ dâu của nữ hoàng mặc vào buổi vũ hội sắp tới. Trong góc phòng, cậu con trai nhỏ của bà đang bệnh nằm trên giường. Cậu bé bị sốt và cậu ấy muốn ăn cam. Bà ta chẳng có gì cho con mình ngoài nước sông. Cậu bé đã khóc rất nhiều. “Nhạn ơi, Nhạn ơi, Nhạn bé nhỏ ơi, cậu có thể gỡ viên hồng ngọc ở cán gươm của tôi để mang cho bà ấy không? Đôi chân tôi bị gắn chặt vào bệ tượng nên tôi không di chuyển được.”

Cậu Nhạn trả lời: “ Bạn bè tôi đang đợi tôi ở Ai Cập. Họ đang bay dọc dòng sông Nile và trò chuyện cùng với những đóa sen to lớn. Họ sắp vào ngủ ở lăng mộ của Đức Vua. Vị vua ấy đang nằm trong một chiếc hòm được trang trí hoa văn tinh xảo. Ông ta được bao bọc bởi lớp vải lanh màu vàng và được ướp bằng hương thơm ngào ngạt. Có một sợi dây chuyền bằng ngọc bích màu xanh nhạt trên cổ ông ta, và đôi tay ông ấy giống như những chiếc lá héo khô.”

Hoàng tử nói: “ Nhạn ơi, Nhạn ơi, Nhạn nhỏ bé ơi, cậu có thể không ngủ ở đây đêm nay để trở thành sứ giả của tôi không? Cậu bé đó đang khát lắm và mẹ cậu bé đang rất buồn.”

Cậu trả lời: “ Tôi không nghĩ là tôi thích mấy cậu nhóc đâu. Mùa hè trước, khi tôi đang ở bên dòng sông, có hai thằng nhóc hỗn xược con của một người chủ cối xay, chúng cứ ném đá vào tôi. Dĩ nhiên là chúng không ném trúng tôi bởi loài nhạn chúng tôi nổi tiếng bay cao và nhanh nhẹn. Nhưng dù sao thì bọn chúng đã không tôn trọng chúng tôi.”

Nhưng rồi vẻ mặt âu sầu của Hoàng tử đã khiến cậu ta thương cảm. Cậu nói: “ Ở đây lạnh lắm nhưng tôi sẽ ở lại với anh một đêm để làm sứ giả cho anh.”

Hoàng tử trả lời: “ Cảm ơn nhé, Nhạn bé nhỏ!”

Thế là chim Nhạn gỡ viên hồng ngọc trên thanh gươm của Hoàng tử và gắp nó bay đi.

Cậu bay ngang qua tháp chuông nhà thờ, trên đó có bức tượng điêu khắc thiên thần bằng đá cẩm thạch. Bay ngang qua cung điện, cậu nghe thấy tiếng người ta đang khiêu vũ. Một cô gái xinh đẹp bước ra ban công với người yêu. Chàng trai nói: “Những ngôi sao mới tuyệt đẹp làm sao! Và sức mạnh tình yêu cũng thật tuyệt vời!”

Cô gái trả lời: “ Em hi vọng là chiếc áo của em sẽ may xong cho kịp buổi vũ hội sắp tới. Em đã yêu cầu thêu hoa trên áo nhưng mấy bà thợ may thật lười nhác.”

Cậu ấy bay ngang qua dòng sông và thấy rất nhiều đèn lồng được treo trên cột buồm của những chiếc thuyền. Rồi cậu bay qua khu nhà ổ chuột và thấy những con buôn đã lớn tuổi đang mặc cả với nhau và cân tiền trên những chiếc đĩa cân bằng đồng. Cuối cùng thì cậu ta cũng đã đến căn nhà nghèo đó và nhìn vào bên trong. Cậu bé đang trở mình trên giường còn bà mẹ đã thiếp đi. Bà đã quá mệt mỏi. Cậu Nhạn nhảy qua khung cửa và đặt viên hồng ngọc trên bàn bên cạnh cái đê khâu vá của người mẹ. Rồi cậu nhẹ nhàng bay vòng quanh giường cậu bé, dùng đôi cánh quạt trán cho cậu bé. Cậu bé nói: “ Ôi! thật là mát. Chắc mình sắp khỏe rồi.” Rồi cậu tiếp tục chìm vào giấc ngủ ngon.

Cậu Nhạn quay trở lại chỗ Hoàng tử và kể lại những chuyện cậu đã làm. Cậu ấy nói thêm, “Thật khó hiểu, dù bây giờ trời đang lạnh nhưng tôi vẫn thấy ấm áp.”

Hoàng tử nói: “Vì cậu đã làm được việc tốt đấy.” Chim Nhạn bắt đầu suy nghĩ và thiếp đi. Suy nghĩ lúc nào cũng làm cậu ấy buồn ngủ.

Trời vừa sáng, cậu bay xuống sông tắm. Đang đi qua cầu, một giáo sư nghiên cứu về các loài chim bật nói: “Thật là một hiện tượng đáng chú ý. Một chú chim nhạn xuất hiện vào mùa đông!” Và ông ấy viết một lá thư dài cho tờ báo địa phương. Mọi người trích dẫn bài viết đó. Nó chứa những từ ngữ mà họ không thể hiểu được.

Cậu Nhạn nói: “Tối nay mình sẽ bay đến Ai Cập.” Cậu ấy đã thăm tất cả những di tích của thành phố và đậu trên tháp chuông nhà thờ trong một thời gian. Mỗi lúc cậu ta bay đến đó, đàn chim sẻ hót líu ríu và bảo nhau rằng: “Anh ấy thật nổi bật!” nên cậu ta thích thú với bản thân mình lắm.
Khi trăng lên, cậu ấy quay trở lại chỗ Hoàng tử. Cậu ấy hỏi:“ Anh có nhiệm vụ gì ở Ai Cập không? Tôi chuẩn bị đi đây!”

Hoàng tử nói: “ Nhạn ơi, Nhạn ơi, Nhạn bé nhỏ ơi, cậu không thể ở đây với tôi thêm một đêm nữa sao?”

Chim nhạn trả lời: “Bạn bè tôi đang đợi tôi ở Ai Cập. Ngày mai bạn tôi sẽ bay đến thác nước thứ hai. Những con hà mã ẩn mình trong đám cây cỏ nến và có một vị thần ngồi trên một ngai vàng bằng đá hoa cương vĩ đại. Suốt đêm ông ấy ngắm sao. Và khi sao Mai xuất hiện, ông ấy bật ra tiếng khóc hạnh phúc, rồi lại im lặng ngồi đấy. Giữa trưa, những con sư tử vàng đi ra uống nước ở mép sông. Đôi mắt chúng xanh trong như đá quý và tiếng gầm của chúng còn to hơn cả tiếng gầm của dòng thác.”

Hoàng tử nói: “Nhạn ơi, Nhạn ơi, Nhạn bé nhỏ ơi, đằng xa thành phố tôi thấy một chàng trai trẻ trong căn gác xép. Cậu ấy đang ngồi bên chiếc bàn ngổn ngang bản thảo, và bên cạnh là một bó hoa vi-ô-lét đã héo úa trong chiếc lọ. Cậu ấy có mái tóc nâu và xoăn bồng bềnh. Đôi môi đỏ như gấc, đôi mắt to mơ mộng. Cậu ấy đang cố gắng viết xong vở kịch cho giám đốc nhà hát. Nhưng cậu ấy không viết tiếp được vì trời quá lạnh. Lò sưởi tắt ngấm và cơn đói làm cậu ấy lả đi rồi.”

Chim Nhạn tốt bụng nói: “Tôi sẽ ở đây thêm một đêm nữa. Tôi sẽ mang cho cậu ấy một viên hồng ngọc khác phải không?”

Hoàng tử nói: “ Ôi, tôi không còn viên hồng ngọc nào nữa. Tất cả những gì tôi còn là đôi mắt của tôi. Chúng được làm bằng đá ngọc bích quí, mang về từ Ấn Độ một ngàn năm trước. Hãy lấy một mắt của tôi ra và mang nó đến cho anh ấy. Anh ta sẽ mang nó đi bán ở tiệm nữ trang và lấy tiền mua thức ăn, củi và hoàn thành vở kịch của mình.”

Chim Nhạn nói: “Hoàng tử ơi, tôi không thể làm điều đó.” Và cậu bắt đầu khóc.

Hoàng tử nói: “Nhạn ơi, Nhạn ơi, Nhạn bé nhỏ ơi, xin hãy làm như lời tôi nói”.

Chim nhạn gỡ một con mắt của Hoàng tử và bay đến gác xép của cậu sinh viên ấy. Cậu dễ dàng bay vào vì có một lỗ hỏng trên mái nhà. Cậu ấy lao xuống lỗ hỏng đó và bay vào bên trong căn phòng. Đôi tay chàng trai đang ôm lấy đầu nên không thể nghe tiếng vỗ cánh của chim nhạn và khi ngẩng đầu lên, chàng trai thấy viên đá ngọc bích lấp lánh nằm trên những bông hoa vi-ô-lét héo khô kia.
Cậu ấy thốt lên: “Mình sắp được nổi tiếng rồi. Viên ngọc này có lẽ là của một người hâm mộ nào đó. Và mình có thể hoàn thành vở kịch được rồi.” Chàng trai trông thật hạnh phúc.

Ngày hôm sau, chim nhạn bay xuống bến cảng. Cậu ta đậu trên cột buồm của một chiếc thuyền lớn và quan sát những thủy thủ đang dùng dây thừng kéo những chiếc rương lớn lên. “Hò dô ta! Dô ta!” Họ hô lên như vậy lúc kéo rương. Cậu nhạn nói: “Tôi sắp bay sang Ai Cập.” Nhưng chẳng ai quan tâm cả. Khi trăng lên, cậu bay về chỗ Hoàng tử.

Cậu ấy nói: “Tôi đến để chào tạm biệt Hoàng tử đây.”

Hoàng tử nói: “Nhạn ơi, Nhạn ơi, Nhạn bé nhỏ ơi, cậu không thể ở đây với tôi thêm một đêm nữa sao?”

Chim nhạn đáp: “Đông đến rồi. Tuyết sắp rơi rồi. Ờ Ai Cập, mặt trời ấm áp trên những cây cọ xanh, những con cá sấu lười nhác nằm dưới bùn. Bạn bè tôi đang xây tổ ở đền Baalbec, những chú bồ câu trắng hồng đang nhìn họ và thỉnh thoảng lại gù nhau. Hoàng tử thân mến, tôi phải đi rồi nhưng tôi sẽ không bao giờ quên anh đâu. Mùa xuân tới tôi sẽ mang cho anh hai viên ngọc để thay thế hai viên ngọc mà Hoàng tử đã cho đi. Viên hồng ngọc sẽ đỏ hơn cả hoa hồng và viên ngọc bích sẽ xanh hơn cả đại dương”.

Hoàng tử nói: “Ở dưới quảng trường kia có một cô bé bán diêm. Cô bé đã làm rơi hết diêm xuống rãnh nước và chúng đã hỏng cả rồi. Không mang được tiền về nhà cô bé sẽ bị bố phạt đòn nên cô bé đang khóc thút thít. Cô bé không có giày, cũng không có tất. Cô bé không có mũ đội. Cậu hãy lấy đi viên ngọc còn lại và mang đến cho cô bé đáng thương ấy. Cô bé sẽ không bị bố đánh nữa.”

Chim Nhạn nói: “Tôi sẽ ở đây thêm một đêm nữa nhưng tôi không thể làm như vậy được. Hoàng tử sẽ bị mù mất thôi.”

Hoàng tử nói: “Nhạn ơi, Nhạn ơi, Nhạn bé nhỏ ơi, xin hãy làm như lời tôi nói”.

Thế rồi chim Nhạn lấy đi con mắt còn lại của Hoàng tử và gắp nó bay đi. Cậu sà xuống chỗ cô bé và nhả viên ngọc quí vào lòng bàn tay cô bé. Cô bé mừng rỡ thốt lên: “Ôi đẹp quá!”. Cô bé hớn hở chạy về nhà.

Sau đó chim Nhạn quay trở lại chỗ Hoàng tử. Cậu ấy nói: “Giờ Hoàng tử đã không còn nhìn thấy gì nữa rồi nên tôi sẽ mãi ở đây với Hoàng tử.”

Chàng Hoàng tử đáng thương trả lời: “Không được đâu chim Nhạn ơi, cậu hãy bay đến Ai Cập đi.”
Chim Nhạn nói: “Tôi sẽ luôn ở bên cạnh anh!” Rồi cậu ấy ngủ dưới chân Hoàng tử.

Cả ngày hôm sau, chim Nhạn đậu trên vai Hoàng tử và kể cho Hoàng tử nghe những gì cậu ấy thấy ở những vùng đất lạ. Cậu kể về loài hồng hạc đứng thành hàng dài ở bờ sông Nile, dùng mỏ bắt cá vàng, kể về tượng Nhân Sư có từ lâu đời và biết hết mọi chuyện trên thế gian. Cậu kể về những thương buôn mang những tràng hạt hổ phách trên tay đi chậm rãi bên những chú lạc đà, kể về vị vua đen như mun của dãy Nguyệt Sơn, về những con rắn xanh to lớn nằm ngủ trên một cây cọ được hai mươi thầy tu nuôi bằng những chiếc bánh mật, về những người lùn Pigmy chèo qua một cái hồ lớn trên những chiếc lá lớn bằng phẳng, và họ luôn đánh nhau với loài bướm.

Hoàng tử nói: “Nhạn thân mến, cậu đã kể tôi nghe về những điều tuyệt diệu, nhưng sự chịu đựng khổ đau của con người mới là điều kì diệu nhất. Không có gì bí ẩn bằng sự đau khổ. Chim Nhạn bé nhỏ ơi, cậu hãy bay khắp thành phố và kể cho tôi nghe những gì cậu thấy.”

Chim Nhạn bay khắp thành phố và thấy những người giàu đang tổ chức tiệc tùng trong những ngôi nhà lộng lẫy của họ. Trong khi đó những người ăn xin đang ngồi trước cổng nhà họ. Cậu ấy bay vào trong những con hẻm nhỏ và nhìn thấy khuôn mặt những đứa trẻ tái nhợt đi vì đói, đang bơ phờ nhìn ra con đường tối. Bên dưới cổng vòm, hai cậu bé đang nằm truyền hơi ấm cho nhau. Chúng thì thào “Đói quá!”

“Tụi bây không được nằm ở đây!” Người gác cổng quát chúng và chúng lủi thủi bước đi dưới trời mưa tầm tã.

Sau đó chim Nhạn bay về chỗ Hoàng tử để kể cho Hoàng tử nghe những gì cậu đã chứng kiến.

Hoàng tử nói: “Vàng bao phủ cơ thể tôi, cậu hãy gỡ từng lá vàng ra và mang cho những người nghèo. Con người luôn nghĩ rằng tiền bạc sẽ mang đến hạnh phúc cho họ.”

Những lá vàng được gỡ xuống từ từ cho đến khi Hoàng tử nhợt nhạt đi. Từng lá vàng được mang đến cho người nghèo và đôi má bọn trẻ trở nên hồng hào hơn. Chúng nô đùa trên đường phố và reo lên: “Giờ chúng ta đã có bánh mì để ăn rồi!”

Tuyết rơi và trời trở rét. Những con đường trông như được làm bằng bạc, rất sáng và lấp lánh. Những trụ băng dài như những con dao găm pha lê treo ngược xuống mái nhà. Mọi người mặc áo lông thú khi dạo bước ra ngoài. Những đứa trẻ đội mũ đỏ thắm chơi trượt băng.

Chim Nhạn nhỏ bé tội nghiệp ngày càng thấy lạnh hơn nhưng cậu vẫn không rời bỏ Hoàng tử. Cậu đã quá yêu quí Hoàng tử. Cậu nhặt những mẩu bánh mì vụn ở bên ngoài cửa của tiệm bánh mì khi ông chủ cửa hàng không để ý. Cậu cố gắng đập cánh để giữ ấm.

Nhưng cuối cùng cậu ấy biết mình sắp chết. Cậu chỉ còn đủ sức để bay lên đậu trên vai Hoàng tử thêm một lần nữa. Cậu nói khẽ “Tạm biệt nhé, Hoàng tử. Tôi có thể hôn lên tay Hoàng tử được không.”

Hoàng tử trả lời: “Tôi vui vì cuối cùng cậu đã quyết định bay đến Ai Cập. Cậu đã ở bên tôi quá lâu rồi. Nhưng cậu phải hôn lên môi tôi bởi vì tôi rất yêu cậu.”

Cậu Nhạn nói: “Tôi sẽ không đến Ai Cập. Tôi sẽ đến ngôi nhà của Thần chết. Cái chết chẳng phải là anh của giấc ngủ đó sao, Hoàng tử?”

Rồi cậu hôn lên đôi môi Hoàng tử và ngã xuống chết bên chân anh.

Lúc đó, có một tiếng vỡ bên trong tượng. Đó chính là tiếng vỡ của trái tim bằng chì của Hoàng tử. Đó hẳn là sự buốt giá kinh khủng.

Sáng sớm hôm sau, viên thị trưởng cùng với những người ủy viên hội đồng đi ngang qua quảng trường bên dưới bức tượng. Khi bước qua cây cột, ông ấy nhìn lên bức tượng và thốt lên: “Ôi, Hoàng tử Hạnh phúc trông thật tồi tàn làm sao.”

“Thật sự rất tồi tàn.” Những người kia cũng thốt lên. Họ lúc nào cũng đồng ý với viên thị trưởng. Sau đó họ bước lên xem bức tượng.

“ Viên hồng ngọc đã rơi khỏi thanh gươm, đôi mắt ngọc bích đã biến mất, và Hoàng tử giờ đây không còn khoác lên những lá vàng óng ánh nữa. Thật sự giờ đây Hoàng tử chỉ khá hơn so với một tên ăn mày một tí thôi.” Viên thị trưởng nói.

“Chỉ tốt hơn một tên ăn mày!” Những người kia hùa theo.

Thị trưởng nói tiếp: “Và có xác một chú chim bên chân Hoàng tử.Chúng ta phải ngăn không cho lũ chim được chết ở đây.” Rồi người thư ký ghi nhận lại điều ấy.

Và họ kéo bức tượng Hoàng tử Hạnh phúc xuống. Một giáo sư nghệ thuật của trường đại học nhận xét: “Hoàng tử không còn đẹp nữa nên cũng trở nên vô dụng.”

Và họ đem nung Hoàng tử trong lò lửa.Thị trưởng tổ chức một cuộc họp để bàn về việc sẽ làm gì với số kim loại ấy. Ông ta nói: “Dĩ nhiên chúng ta phải đúc một bức tượng khác, và đó sẽ là bức tượng của chính tôi.”

Những người ủy viên thay nhau nói: “Tượng của tôi!”. Rồi họ bắt đầu tranh cãi với nhau.

Một người đốc công trong lò đúc nói: “Vật gì lạ thế này?, Trái tim bằng chì đã bị vỡ này sẽ không tan chảy trong lò nung. Chúng ta phải vứt nó đi.” Nên ông ta vứt nó vào trong đống tro tàn nơi chú chim Nhạn đang yên nằm.

Trên cao, Thượng đế nói với một trong những Thiên thần: “Con hãy mang cho ta hai vật quí báu nhất ở thành phố này.” Và Thiên thần mang đến cho Ngài trái tim bằng chì và xác chú chim Nhạn.
Thượng đế nói: “Con chọn đúng lắm! Chú chim nhỏ này sẽ mãi cất tiếng hót ở vườn Tiên và Hoàng tử hạnh phúc sẽ mãi tôn kính ta ở Thiên đường vàng này.”

Thank you for inspiring us to enjoy the beauty of American Literature!

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Thanks for great time we had!

Group’s members:Trần Quốc Thanh, Đỗ Thị Huyền Trang, Vũ Thị Như Quỳnh
Instructor: Pham Vu Phi Ho M.A.


Viên cai ngục đến xưởng giày trong nhà giam, nơi Jimmy Vanlentine đang cần mẫn với những đường may trên phần mũi giày để áp giải anh ta đến phòng giám đốc. ở đó, viên quản đốc đưa cho Jimmy tờ ân xá vừa được ngài thống đốc ký vào sáng nay. Jimmy tỏ vẻ nhàm chán khi nhận tờ giấy. Anh đã ở đây được gần 10 tháng trong bản án 4 năm trong khi anh ta nghĩ anh chỉ phải ở đây cùng lắm là 3 tháng. Với một người đàn ông, có nhiều mối quan hệ như Jimmy Valentine thì việc bắt anh ta chẳng có ích gì. Bắt rồi lại thả!

Viên quản đốc nói: “ Valentine này, sáng mai cậu sẽ được tự do. Hãy cố lên và trở thành người đàn ông chân chính. Thực chất cậu không phải là 1 người xấu. Đừng cậy két sắt nữa và hãy sống cho ngay thẳng.”

- Jimmy ngạc nhiên đáp: “Tôi ư? Tại sao ông lại nói vậy, tôi chưa bao giờ cậy két sắt cả”.

- “ồ, thôi đi” ông giám đốc cười chế nhạo. “ Không hả? Vậy cậu đã làm gì để bị đưa vào đây trong vụ Springfield? Bởi vì cậu không có bằng chứng ngoại phạm và để đề phòng bất trắc cậu đã câu kết với một số người có vai vế trong xã hội đúng không? Hay đơn giản là Hội Thẩm Đoàn già nua ủng hộ cậu? Trong đó luôn luôn có một hoặc vài người đồng ý cậu vô tội.”

- Jimmy vẫn đáp lại một cách ngây ngô: “ Tôi hả? Tại sao thưa ngài! Tôi chưa bao giờ đặt chân đến Springfield.

Viên quản đốc nói với Cronin : “Đưa cậu ta về và chuẩn bị đồ đạc để thả cậu ta ra vào 7 giờ sáng mai. Trước đó, nhớ đưa cậu ta đến phòng đợi. Valentine, hãy nghĩ về những lời khuyên của tôi.”

7 giờ15 sáng hôm sau, Jimmy đứng bên ngoài văn phòng quản đốc Anh ta mặc một bô vét may sẵn rẻ tiền, mang một đôi giày cứng nhắc mà còn đi phát ra tiếng kêu chít chít thường được phát cho những người tù khi họ được trả tự do.

Thư ký đưa cho Jimmy 1 vé tàu và tờ 5 đôla với hy vọng của nhà nước rằng anh ta có thể làm lại cuộc đời và trở thành 1 người công dân tốt. Ngài giám đốc thì mời Jimmy 1 điếu xì gà rồi bắt tay anh. Vậy là Valentine, tù nhân số 9762 được ghi vào sổ với nội dung “ lệnh tha cuả Thống Đốc”. Sau đó, Jimmy Valentine bước đi trên con đường đầy nắng.

Chẳng màng tới tiếng chim hót, cành lá vẫy gọi và cả hương hoa quyến rũ, Jimmy đi thẳng về phía khách sạn. Ở đó, anh ta tận hưởng hương vị ngot ngào đầu tiên của tự do bằng cách chén sạch 1 con gà nướng và uống cạn 1 chai rượu vang trắng, tiếp theo đó là phì phà điếu xì gà loại thương hạng tốt hơn cả điếu mà giám đốc đã mời anh . Sau đó, anh ta ung dung tiến đến nhà ga, búng 1 đồng 25 xu một cách điêu nghệ vào nón của 1 người mù ngồi trước cửa nhà ga rồi bước lên tàu. 3 giờ sau, anh ta xuống tàu ở 1 ngôi làng nhỏ gần ranh giới tiểu bang. Sau đó, Jimmy bước vào 1 quán cà phê của một người tên Mike Dolan và bắt tay với Mike, người đàn ông đứng sau quầy bar.

- “ Xin lỗi Jimmy. Chúng tôi đã không thể làm điều đó sớm hơn được ” Mike nói: “ có 1 số ý kiến từ Springfield ngăn cản việc này nên suýt tí nữa ông thống đốc ko chịu giải quyết. Ổn chứ anh bạn ?”
- Jimmy đáp : ‘Ổn. Chìa khóa của tôi đâu ?’

Jimmy cầm lấy chìa khóa rồi bước lên lầu, mở cửa một căn phòng ở phía sau. Mọi thứ trong phòng vẫn còn y nguyên như lúc anh đi. Trên sàn nhà vẫn còn cái nút cổ áo của ông Ben Price mà bị giật mạnh trong lúc ông cùng đám cảnh sát ập bắt giữ Jimmy.

Kéo chiếc giường xếp ra khỏi tường, Jimmy đẩy nhẹ tấm ván áp trong tường và lôi ra cái vali bám đầy bụi. Anh ta mở vali rồi ngắm nhìn khoan khoái bộ đồ nghề ăn trộm tốt nhất khu vực miền Đông nước Mỹ. Nó là một bộ đầy đủ, đặc biệt làm bằng thép tôi luyện, được đặt làm theo mẫu thiết kế mới nhất gồm có khoan, giùi, cái vặn ốc tay quay, xà beng, cái kẹp cùng với 2 hoặc 3 dụng cụ mới lạ do chính Jimmy sáng chế và anh ta rất tự hào về bộ đồ nghề này. Anh ta phải mất hơn 900 đôla để đặt làm ở một nơi chuyên làm những dụng cụ như thế cho những tay tội phạm chuyên nghiệp.

Nửa gờ sau, Jimmy xuống lầu, đi qua quầy cà phê. Giờ đây, Jimmy mặc 1 bộ đồ vừa vặn, trang nhã, tay anh xách vali đã được lau chùi cẩn thận.

- Mike hỏi thân thiện: “ đi làm ăn à”.
- Jimmy trả lời với giọn lúng túng : “ Tôi á. Tôi ko hiểu, tôi là nhân viên đại diện công ty bánh quy và lương thực New York mà ”.

Câu nói đó làm cho Mike cảm thấy vui. Rồi Jimmy đi lấy nước khoáng và sữa vì anh ta chưa bao giờ uống những loại rượu mạnh.

Một tuần sau khi thả tự do cho tù nhân số 9762- Valentine , có một vụ trộm ở Richmond, Indianna được tiến hành rất gọn mà không để lại bất kỳ một manh mối nào. Số tiền bị mất cắp không nhiều lắm chỉ khoảng 800 đôla. Hai tuần sau đó, một két sắt chống trộm với thiết kế hiện đại, tinh xảo ở Logansport cũng bị mở tung và 1500 đôla trong đó như một miếng pho mát ngon lành đã chẳng còn. Tuy nhiên, những hối phiếu và đồng xu lẻ thì còn nguyên. Vụ này bắt đầu thu hút sự chú ý của cảnh sát điều tra tội phạm. Sau đó không lâu vụ trộm két sắt của một ngân hàng lâu đời ở thành phố Jefferson đã làm xôn xao dư luận, như thể là quăng vào miệng núi lửa tổng số tiền là 5000 đôla làm phun trào sự chú ý tới ngân hàng này. Số tiền thiệt hại quá lớn khiến cho ông chánh thanh tra Ben Price lo lắng và bắt đầu ra quân. So sánh những dấu vết tại hiện trường, ông phát hiện ngay ra những nét tương tự đáng chú ý trong cách hành động của tên trộm.

“ Chính Dandy Jim Valentine là tác giả chứ chẳng ai khác. Hắn lại quay về món nghề cũ rồi. Hãy nhìn những núm khóa kia mà xem, chúng bị giật mạnh dễ dàng cứ y như người ta nhổ củ cải khi trời mưa vậy. Chỉ có Jimmy mới có được cái kẹp để có thể làm được thôi. Lại nhìn những cái lẫy khóa bị bung ra mới gọn làm sao. Hắn không bao giờ phải khoan đến mũi thứ hai. Đúng vậy. Tôi nghĩ và tôi muốn bắt thằng Valentine. Lần tới hắn sẽ hành động mà không cần nhiều thời gian hay mắc sai lầm nào nữa”.

Ben Price đã quá quen với những thói quen của Jimmy khi điều tra vụ trộm ở Springfield. Chuồn lẹ , trốn đi thật xa, không cần đồng bọn và có năng khiếu về cách ăn nói. Đó là những lý do giúp Valentine trở thành người chạy tội giỏi. Các ông chủ két sắt cảm thấy nhẹ cả người khi nghe tin thám tử Ben Price đang lần theo dấu vết của tên trộm danh tiếng này.

Một chiều nọ, Jimmy Valentine cùng chiếc vali trèo ra khỏi chiếc xe chở thư thuê dừng ở Elmore. Đó là một thị trấn nhỏ cách đường ray xe lửa 5 dặm trong vùng hẻo lánh thuộc bang Arkansas. Jimmy trông giống như một chàng sinh viên năm cuối dáng vẻ lực lưỡng về thăm quê nhà, bước đi thong thả trên vỉa hè lót ván hướng về phía khách sạn.

Bỗng có một tiểu thư băng qua đường, ngang qua mặt anh ta ở góc phố rồi rẽ vào một cửa hiệu có treo bảng “ ngân hàng Elmore”. Lú liếc nhìn vào mắt cô ấy, anh ta như bị hớp hồn quên cả mình là ai, trở thành một người hoàn toàn khác. Còn cô ấy hình như có vẻ hơi ngượng rồi cúi mặt xuống. Ở Elmore hiếm có chàng trai nào ăn mặc bảnh bao như Jimmy thì phải.

Jimmy tóm lấy 1 cậu bé đang chơi thơ thẩn trên bậc thềm ngân hàng và hỏi cậu như thể anh ta là một cổ đông, sau đó hỏi thêm thông tin về thị trấn, chốc chốc anh ta lại giúi cho cậu bé 1 hào. Một lát sau, tiểu thư bước ra với một ánh mắt lạnh lùng và đi thẳng, không còn để ý tới chàng thanh niên xách chiếc vali nữa.

- Jimmy khôn khéo hỏi: “ Tiểu thư Polly Simpson đó phải không?”
- Cậu bé trả lời: “ không đâu. Đó là tiểu thư Annabel Adams. Bố cô ấy là chủ ngân hàng này. Chú tới Elmore làm gì vậy? Đó có phải dây đồng hồ bằng vàng không ạ? Cháu dự định mua một con chó bun. Chú không có hào nào nữa à”

Jimmy đến khách sạn Planters. Đăng ký 1 phòng với tên Ralph D. Spencer. Anh ta dựa vào quầy tiếp tân rồi bắt chuyện với nhân viên khách sạn. Anh ta bảo tới Elmore để kinh doanh. Anh đang nghĩ về việc kinh doanh giày dép. Liệu kinh doanh giày dép ở đây có được không nhỉ? Ở đây có hiệu giày nào chưa?

Chàng nhân viên rất ấn tượng về cách ăn mặc và thái độ nhã nhặn của Jimmy. Anh ta có thể là kiểu mẫu về thời trang cho những thanh niên giàu có ở vùng Elmore và tự nhìn lại, anh thấy ở mình thiếu sót rất nhiều. Trong khi cố gắng tìm hiểu về dung mạo vương giả của Jimmy. Anh ta nhiệt tình cho biết:

“Vâng. Nên có 1 cửa hàng giày ở đây. Hiện tại, thị trấn này vẫn chưa có tiệm giày nào cả. Thường thì mặt hàng này chỉ được bán ở cửa hàng đồ khô và tạp hóa thôi. Việc kinh doanh tại đây đang có chiều hướng khá lên. Mong rằng anh sẽ sớm có quyết định định cư tại đây. Anh sẽ thấy hài lòng với cuộc sống ở đây, người dân vùng này rất gần gũi”.

Spencer nghĩ anh ta sẽ nán lại vài ngày để xem xét tình hình. Nhân viên khách sạn không cần gọi bồi vì anh sẽ tự xách vali khá nặng của mình.

Thế là ngài Ralph Spencer, 1 con người mẫu mực xuất thân từ đống tro tàn của Jimmy Valentine. Đống tro tàn đó bị tan biến bởi ngọn lửa tình yêu nồng cháy. Jimmy quyết định ở lại Elmore lập nghiệp, anh ta mở hiệu giày và điều hành công việc kinh doanh khá tốt.

Về mặt xã hội, Jimmy cũng thành công không kém, anh quen biết nhiều. Và hơn nữa ước nguyện của anh cũng đã thành. Anh đã quen tiểu thư Annabel Adams, nét quyến rũ của nàng đã làm anh càng ngày càng yêu say đắm.

Đến cuối năm nay, hoàn cảnh sống của ngài Ralph Spencer có thể tóm lại như sau: Anh ta đã chiếm được tình cảm của người dân trong thị trấn, cửa hàng giày dép làm ăn phát đạt. Anh và Annabel đã đính hôn và sẽ tiến hành đám cưới trong 2 tuần nữa. Ông Adam, một ông chủ ngân hàng tiêu biểu và cần cù, rất ưng thuận về chàng rể tương lai. Còn Annabel, cô yêu anh bao nhiêu thì hãnh diện về anh bấy nhiêu. Anh ta thừơng xuyên đến chơi nhà ông Adam cũng như gia đình nhà chị gái của Annabel như thể anh đã là người một nhà .

Một ngày nọ, Jimmy ngồi trong phòng và viết thư đến một địa chỉ tin cậy của một người bạn ở St. Louis.

Billy thân mến,
Vào lúc 9 giờ tối ngày thứ tư, tớ muốn cậu có mặt tại quán Sullivan ở Little rock. Tớ muốn nhờ cậu giải quyết một số vấn đề nhỏ giúp tớ. Nhân tiện tớ muốn tặng cậu bộ đồ nghề của tớ. Tớ biết cậu sẽ rất thích. Cậu không thể làm lại bộ giống hệt của tớ với 1000 đôla đâu. Billy này, tớ đã bỏ nghề một năm nay rồi. Hiện tớ có một cửa hàng hoạt động rất tốt. Tớ đang hoàn lương và dự định lấy một cô gái tuyệt vời nhất thế gian này vào 2 tuần nữa. Billy à, giờ đây tớ nhận thấy rằng cuộc sống lương thiện là cuộc sống tốt nhất. Từ nay tớ sẽ không chạm vào bất kỳ một đồng xu nào của ai nữa. Sau khi cưới vợ tớ định bán hết của cải rồi đến miền Tây sinh sống, chỉ ở đấy mới hy vọng tớ không bị quấy rầy vì những tai tiếng cũ của mình. Như tớ đã nói với cậu Billy, vợ tớ đúng là một thiên thần. Cô ấy tin tớ nên tớ sẽ không làm bất cứ một điều tội lỗi nào nữa để không phụ lòng tin ấy. Tớ sẽ mang bộ đồ nghề đến cho cậu.

Người bạn cũ
Jimmy

Vào tối thứ hai ấy sau khi Jimmy viết thư, Ben Price đang ngồi lắc lư trên chiếc xe ngựa màu mè một cách kín đáo đến Elmore. Đến thị trấn ông đi thăm dò tình hình một vòng trong im lặng mãi cho đến khi ông ta tìm thấy điều ông ta muốn. Ông ngắm nhìn dung mạo của ông chủ trẻ Ralph D. Spencer từ hiệu thuốc nằm đối diện cửa hiệu giày dép của Spencer.

Ông Ben lẩm bẩm trong miệng: “Jimmy, giờ cậu định lấy cả con gái ông chủ ngân hàng cơ đấy. Tốt thôi. Tôi không biết đâu”.

Sáng ngày hôm sau Jimmy ăn sáng ở nhà ông Adamses. Hôm nay anh dự định đến Little Rock để sắm đồ cưới và mua vài món quà thật đẹp cho Annabel. Và đây cũng là lần đầu tiên anh rời khỏi thị trấn kể từ khi anh đến Elmore. Tính đến nay đã hơn một năm kể từ khi anh thực hiên vụ trộm cuối cùng, nên anh quyết định liều ra ngoài một phen.

Sau khi điểm tâm, cả nhà kéo nhau xuống phố gồm có ông Adam, tiểu thư Annabel, Jimmy, chị gái của Annabel cùng hai đứa con mới lên 5, và 9 tuổi. Họ kéo đến khách sạn nơi Jimmy ở. Đến nơi anh chạy lên phòng và lấy cái vali. Sau đó, họ đến ngân hàng. Ở đó, xe ngựa cùng người xà ích tên Dolph Gibson đang chờ Jimmy để đưa anh ra ga.

Tất cả mọi người đi qua thanh rào chắn cao khắc bằng gỗ sồi để vào căn phòng bên trong ngân hàng, có cả chàng rể tương lai của ông Adam, đi đến đâu cũng được chào đón. Đám nhân viên ngân hàng cúi chào anh răm rắp. Jimmy để chiếc vali xuống. Lúc này, trái tim Annabel tràn ngập hạnh phúc, trở nên hoạt bát nghịch nghợm. Cô đội chiếc mũ của Jimmy và nhấc chiếc vali lên. Annabel nói: “em sẽ không trở thành người chào hàng tốt được”, “ ồ anh Ralph nó mới nặng làm sao?” Cảm tưởng như vali đầy những thỏi vàng.

Jimmy nói lạnh lùng: “Toàn những cái đế giày mạ kền trong đó thôi, anh sẽ gửi trả lại. Anh nghĩ giữ nó lại chỉ thêm gánh nặng, vả lại anh cũng đang dành giụm tiền.”

Ông chủ ngân hàng Elmore vừa mới đặt một cái tủ sắt mới. Ông Adam rất hãnh diện về nó và muốn khoe với mọi người. Khung tủ tuy nhỏ nhưng nó có cửa rất hiện đại và tinh xảo. Mỗi lần quay tay nắm là ba thanh thép lớn đâm sâu , gắn chặt vào tủ, và có cả nắm khóa hẹn giờ tự động. Ông Adam phổng mũi giải thích những tính năng hiện đại của chiếc két sắt cho Spencer nghe, anh lịch sự tỏ ra chăm chú nghe nhưng không mấy thích thú. Hai đứa nhỏ May và Agatha rất khoái cái thanh kim loại bóng loáng và mấy núm điều khiển ngộ ngộ.

Trong khi mọi người đang chú ý nghe ông Adam thì ông Ben Price từ từ bước vào ngân hàng, tay tì lên mặt quầy, nhìn một cách khó hiểu vào bên trong rào chắn. Nhân viên ngân hàng tới hỏi, ông ta nói ông chỉ chờ người quen.

Đột nhiên có một hoặc hai tiếng la hét của người phụ nữ cộng với âm thanh của sự hỗn loạn. Nhân lúc người lớn không để ý, cô bé May, 9 tuổi, ham chơi, đã đẩy em mình vào trong tủ sắt. Sau đó, cô bé cài then chốt cửa và xoay mấy núm số trên cửa tủ giống y như ông Adam làm lúc nãy.
Ông chủ ngân hàng thấy vậy vội nhào tới giằng lấy tay nắm và kéo mạnh một lúc. Ông buồn rầu nói “ không tài nào mở cứa được. Lại chưa chỉnh số hẹn giờ nữa chứ”.

Mẹ Agatha gào thét một cách điên cuồng.
- Ông Adam run rẫy nói: “ bình tĩnh nào. Tất cả im lặng một lúc được không.”
- Ông cố gắng gọi lớn : “Agatha, cháu có nghe ông nói rõ chứ”.

Trong suốt sự im lặng đáng sợ ấy, mọi người nghe rất rõ âm thanh la hét sợ hãi khiếp đảm của cô bé bị nhốt trong hầm tối.

- Người mẹ lại kêu gào: “ con gái yêu quí của mẹ. Con bé sẽ chết khiếp mất. Hãy mở cửa ra. Phá ra đi. Ai làm gì đó đi chứ.”
- Ông Adam nói với giọng run run: “Chỉ có thợ ở Litltle Rock mới có thể mở cánh cửa này . Trời ơi. Chúng ta sẽ phải làm gì đây hả Spencer? Con bé không chịu nổi ở trong đó lâu được đâu. Không có đủ không khí, hơn nữa con bé sẽ lên bị co giật vì sợ hãi .”

Người mẹ lúc này như phát điên lên, tay đập mạnh vào cánh cửa tủ. Một số người gợi ý một cách thiếu suy nghĩ là cho nổ mìn. Annabel quay sang nhìn Jimmy, ánh mắt cô ấy rất đau khổ nhưng vẫn còn chút gì đó hy vọng. Đối với một người phụ nữ, người đàn ông mà cô ấy yêu là người có sức mạnh vô biên không gì là không thể làm được.

- “ Anh Ralph, anh hãy làm gì giúp chị ấy đi”.
Anh ta nhìn cô ấy với nụ cười lạ lùng trên môi và trong sâu thẳm mắt anh.
- Anh nói: “ Annabel , đưa cho anh bông hoa hồng em đang cài trên áo được không?”

Cô ấy hầu như không tin nổi vào tai mình nữa, nhưng cô tháo bông hoa ra đặt vào tay Jimmy. Anh ta cất nó vào túi áo vét, rồi cởi áo khoác ngoài ra, xoắn tay áo lên. Chính hành động đó đã giết chết hình tượng ngài Ralph D.Spencer trong mắt mọi người, thay vào đó là hình ảnh của Jimmy Valentine.

- Anh ta ra lệnh ngắn gọn: “tất cả mọi người, hãy tránh ra khỏi cánh cửa tủ hết đi”.
- Anh ta đặt vali lên bàn , rồi mở toang. Từ lúc ấy, anh dường như không còn biết ai ở xung quanh nữa. Anh đặt những dụng cụ kỳ quặc ra ngoai ánh sáng một cách nhanh chóng và theo thứ tự, vừa làm vừa húyt sáo. Trong bầu không khí im lặng đến nghẹt thở, mọi người chăm chú quan sát những hành động của Jimmy đến mê mẩn.

Chỉ cần một phút, mũi khoan nhỏ của Jimmy đã ăn sâu vào trong cánh cửa thép. Trong vòng mười phút, cánh cửa mở toang. Anh đã phá kỷ lục do chính anh lập nên qua các lần mở trước. Anh đẩy lùi cái then chốt rồi mở cửa ra.

Agatha gần như té xỉu trong vòng tay mẹ nhưng an toàn rồi.

Jimmy mặc áo khoác vào, và đi ra khỏi thanh rào chắn hướng ra phía cửa trước. Trong khi anh bước ra anh nghĩ mình đã nghe một giọng nói quen thuộc nhưng thật xa vời “anh Ralph”. Tuy nhiên anh không bao giờ lưỡng lự.

Ngoài cửa một người đàn ông hơi to lớn cản đường anh.

- Jimmy vấn với nụ cười khó hiểu ấy nói: “ chào ông Ben. Cuối cùng ông đã đến đấy à? Thôi, chúng ta đi nào. Bây giờ tôi không biết rằng điều đó làm cho sự thể thay đổi hoàn toàn.
Và rồi ngài Ben Price hành động rất lạ lùng.

- Ông nói: “ Ông spencer, tôi đoán ông đã nhầm. Tôi không nghĩ là tôi biết ông. Xe ngựa đang chờ ông phải không?”

Sau đó, ông Ben Price quay lưng và đi thẳng ra ngoài đường.

---------

A guard came to the prison shoe-shop, where Jimmy Valentine was assiduously stitching uppers, and escorted him to the front office. There the warden handed Jimmy his pardon, which had been signed that morning by the governor. Jimmy took it in a tired kind of way. He had served nearly ten months of a four year sentence. He had expected to stay only about three months, at the longest. When a man with as many friends on the outside as Jimmy Valentine had is received in the "stir" it is hardly worth while to cut his hair.
"Now, Valentine," said the warden, "you'll go out in the morning. Brace up, and make a man of yourself. You're not a bad fellow at heart. Stop cracking safes, and live straight."
"Me?" said Jimmy, in surprise. "Why, I never cracked a safe in my life."
"Oh, no," laughed the warden. "Of course not. Let's see, now. How was it you happened to get sent up on that Springfield job? Was it because you wouldn't prove an alibi for fear of compromising somebody in extremely high-toned society? Or was it simply a case of a mean old jury that had it in for you? It's always one or the other with you innocent victims."
"Me?" said Jimmy, still blankly virtuous. "Why, warden, I never was in Springfield in my life!"
"Take him back, Cronin!" said the warden, "and fix him up with outgoing clothes. Unlock him at seven in the morning, and let him come to the bull-pen. Better think over my advice, Valentine."
At a quarter past seven on the next morning Jimmy stood in the warden's outer office. He had on a suit of the villainously fitting, ready-made clothes and a pair of the stiff, squeaky shoes that the state furnishes to its discharged compulsory guests.
The clerk handed him a railroad ticket and the five-dollar bill with which the law expected him to rehabilitate himself into good citizenship and prosperity. The warden gave him a cigar, and shook hands. Valentine, 9762, was chronicled on the books, "Pardoned by Governor," and Mr. James Valentine walked out into the sunshine.
Disregarding the song of the birds, the waving green trees, and the smell of the flowers, Jimmy headed straight for a restaurant. There he tasted the first sweet joys of liberty in the shape of a broiled chicken and a bottle of white wine--followed by a cigar a grade better than the one the warden had given him. From there he proceeded leisurely to the depot. He tossed a quarter into the hat of a blind man sitting by the door, and boarded his train. Three hours set him down in a little town near the state line. He went to the cafe of one Mike Dolan and shook hands with Mike, who was alone behind the bar.
"Sorry we couldn't make it sooner, Jimmy, me boy," said Mike. "But we had that protest from Springfield to buck against, and the governor nearly balked. Feeling all right?"
"Fine," said Jimmy. "Got my key?"
He got his key and went upstairs, unlocking the door of a room at the rear. Everything was just as he had left it. There on the floor was still Ben Price's collar-button that had been torn from that eminent detective's shirt-band when they had overpowered Jimmy to arrest him.
Pulling out from the wall a folding-bed, Jimmy slid back a panel in the wall and dragged out a dust-covered suit-case. He opened this and gazed fondly at the finest set of burglar's tools in the East. It was a complete set, made of specially tempered steel, the latest designs in drills, punches, braces and bits, jimmies, clamps, and augers, with two or three novelties, invented by Jimmy himself, in which he took pride. Over nine hundred dollars they had cost him to have made at ----, a place where they make such things for the profession.
In half an hour Jimmy went down stairs and through the cafe. He was now dressed in tasteful and well-fitting clothes, and carried his dusted and cleaned suit-case in his hand.
"Got anything on?" asked Mike Dolan, genially.
"Me?" said Jimmy, in a puzzled tone. "I don't understand. I'm representing the New York Amalgamated Short Snap Biscuit Cracker and Frazzled Wheat Company."
This statement delighted Mike to such an extent that Jimmy had to take a seltzer-and-milk on the spot. He never touched "hard" drinks.
A week after the release of Valentine, 9762, there was a neat job of safe-burglary done in Richmond, Indiana, with no clue to the author. A scant eight hundred dollars was all that was secured. Two weeks after that a patented, improved, burglar-proof safe in Logansport was opened like a cheese to the tune of fifteen hundred dollars, currency; securities and silver untouched. That began to interest the rogue- catchers. Then an old-fashioned bank-safe in Jefferson City became active and threw out of its crater an eruption of bank-notes amounting to five thousand dollars. The losses were now high enough to bring the matter up into Ben Price's class of work. By comparing notes, a remarkable similarity in the methods of the burglaries was noticed. Ben Price investigated the scenes of the robberies, and was heard to remark:
"That's Dandy Jim Valentine's autograph. He's resumed business. Look at that combination knob--jerked out as easy as pulling up a radish in wet weather. He's got the only clamps that can do it. And look how clean those tumblers were punched out! Jimmy never has to drill but one hole. Yes, I guess I want Mr. Valentine. He'll do his bit next time without any short-time or clemency foolishness."
Ben Price knew Jimmy's habits. He had learned them while working on the Springfield case. Long jumps, quick get-aways, no confederates, and a taste for good society--these ways had helped Mr. Valentine to become noted as a successful dodger of retribution. It was given out that Ben Price had taken up the trail of the elusive cracksman, and other people with burglar-proof safes felt more at ease.
One afternoon Jimmy Valentine and his suit-case climbed out of the mail-hack in Elmore, a little town five miles off the railroad down in the black-jack country of Arkansas. Jimmy, looking like an athletic young senior just home from college, went down the board side-walk toward the hotel.
A young lady crossed the street, passed him at the corner and entered a door over which was the sign, "The Elmore Bank." Jimmy Valentine looked into her eyes, forgot what he was, and became another man. She lowered her eyes and coloured slightly. Young men of Jimmy's style and looks were scarce in Elmore.
Jimmy collared a boy that was loafing on the steps of the bank as if he were one of the stockholders, and began to ask him questions about the town, feeding him dimes at intervals. By and by the young lady came out, looking royally unconscious of the young man with the suit- case, and went her way.
"Isn' that young lady Polly Simpson?" asked Jimmy, with specious guile.
"Naw," said the boy. "She's Annabel Adams. Her pa owns this bank. Why'd you come to Elmore for? Is that a gold watch-chain? I'm going to get a bulldog. Got any more dimes?"
Jimmy went to the Planters' Hotel, registered as Ralph D. Spencer, and engaged a room. He leaned on the desk and declared his platform to the clerk. He said he had come to Elmore to look for a location to go into business. How was the shoe business, now, in the town? He had thought of the shoe business. Was there an opening?
The clerk was impressed by the clothes and manner of Jimmy. He, himself, was something of a pattern of fashion to the thinly gilded youth of Elmore, but he now perceived his shortcomings. While trying to figure out Jimmy's manner of tying his four-in-hand he cordially gave information.
Yes, there ought to be a good opening in the shoe line. There wasn't an exclusive shoe-store in the place. The dry-goods and general stores handled them. Business in all lines was fairly good. Hoped Mr. Spencer would decide to locate in Elmore. He would find it a pleasant town to live in, and the people very sociable.
Mr. Spencer thought he would stop over in the town a few days and look over the situation. No, the clerk needn't call the boy. He would carry up his suit-case, himself; it was rather heavy.
Mr. Ralph Spencer, the phoenix that arose from Jimmy Valentine's ashes --ashes left by the flame of a sudden and alterative attack of love-- remained in Elmore, and prospered. He opened a shoe-store and secured a good run of trade.
Socially he was also a success, and made many friends. And he accomplished the wish of his heart. He met Miss Annabel Adams, and became more and more captivated by her charms.
At the end of a year the situation of Mr. Ralph Spencer was this: he had won the respect of the community, his shoe-store was flourishing, and he and Annabel were engaged to be married in two weeks. Mr. Adams, the typical, plodding, country banker, approved of Spencer. Annabel's pride in him almost equalled her affection. He was as much at home in the family of Mr. Adams and that of Annabel's married sister as if he were already a member.
One day Jimmy sat down in his room and wrote this letter, which he mailed to the safe address of one of his old friends in St. Louis:
Dear Old Pal:
I want you to be at Sullivan's place, in Little Rock, next
Wednesday night, at nine o'clock. I want you to wind up some
little matters for me. And, also, I want to make you a present of
my kit of tools. I know you'll be glad to get them--you couldn't
duplicate the lot for a thousand dollars. Say, Billy, I've quit
the old business--a year ago. I've got a nice store. I'm making an
honest living, and I'm going to marry the finest girl on earth two
weeks from now. It's the only life, Billy--the straight one. I
wouldn't touch a dollar of another man's money now for a million.
After I get married I'm going to sell out and go West, where there
won't be so much danger of having old scores brought up against
me. I tell you, Billy, she's an angel. She believes in me; and I
wouldn't do another crooked thing for the whole world. Be sure to be
at Sully's, for I must see you. I'll bring along the tools with me.
Your old friend,
Jimmy.
On the Monday night after Jimmy wrote this letter, Ben Price jogged unobtrusively into Elmore in a livery buggy. He lounged about town in his quiet way until he found out what he wanted to know. From the drug-store across the street from Spencer's shoe-store he got a good look at Ralph D. Spencer.
"Going to marry the banker's daughter are you, Jimmy?" said Ben to himself, softly. "Well, I don't know!"
The next morning Jimmy took breakfast at the Adamses. He was going to Little Rock that day to order his wedding-suit and buy something nice for Annabel. That would be the first time he had left town since he came to Elmore. It had been more than a year now since those last professional "jobs," and he thought he could safely venture out.
After breakfast quite a family party went downtown together--Mr. Adams, Annabel, Jimmy, and Annabel's married sister with her two little girls, aged five and nine. They came by the hotel where Jimmy still boarded, and he ran up to his room and brought along his suit- case. Then they went on to the bank. There stood Jimmy's horse and buggy and Dolph Gibson, who was going to drive him over to the railroad station.
All went inside the high, carved oak railings into the banking-room-- Jimmy included, for Mr. Adams's future son-in-law was welcome anywhere. The clerks were pleased to be greeted by the good-looking, agreeable young man who was going to marry Miss Annabel. Jimmy set his suit-case down. Annabel, whose heart was bubbling with happiness and lively youth, put on Jimmy's hat, and picked up the suit-case. "Wouldn't I make a nice drummer?" said Annabel. "My! Ralph, how heavy it is? Feels like it was full of gold bricks."
"Lot of nickel-plated shoe-horns in there," said Jimmy, coolly, "that I'm going to return. Thought I'd save express charges by taking them up. I'm getting awfully economical."
The Elmore Bank had just put in a new safe and vault. Mr. Adams was very proud of it, and insisted on an inspection by every one. The vault was a small one, but it had a new, patented door. It fastened with three solid steel bolts thrown simultaneously with a single handle, and had a time-lock. Mr. Adams beamingly explained its workings to Mr. Spencer, who showed a courteous but not too intelligent interest. The two children, May and Agatha, were delighted by the shining metal and funny clock and knobs.
While they were thus engaged Ben Price sauntered in and leaned on his elbow, looking casually inside between the railings. He told the teller that he didn't want anything; he was just waiting for a man he knew.
Suddenly there was a scream or two from the women, and a commotion. Unperceived by the elders, May, the nine-year-old girl, in a spirit of play, had shut Agatha in the vault. She had then shot the bolts and turned the knob of the combination as she had seen Mr. Adams do.
The old banker sprang to the handle and tugged at it for a moment. "The door can't be opened," he groaned. "The clock hasn't been wound nor the combination set."
Agatha's mother screamed again, hysterically.
"Hush!" said Mr. Adams, raising his trembling hand. "All be quite for a moment. Agatha!" he called as loudly as he could. "Listen to me." During the following silence they could just hear the faint sound of the child wildly shrieking in the dark vault in a panic of terror.
"My precious darling!" wailed the mother. "She will die of fright! Open the door! Oh, break it open! Can't you men do something?"
"There isn't a man nearer than Little Rock who can open that door," said Mr. Adams, in a shaky voice. "My God! Spencer, what shall we do? That child--she can't stand it long in there. There isn't enough air, and, besides, she'll go into convulsions from fright."
Agatha's mother, frantic now, beat the door of the vault with her hands. Somebody wildly suggested dynamite. Annabel turned to Jimmy, her large eyes full of anguish, but not yet despairing. To a woman nothing seems quite impossible to the powers of the man she worships.
"Can't you do something, Ralph--/try/, won't you?"
He looked at her with a queer, soft smile on his lips and in his keen eyes.
"Annabel," he said, "give me that rose you are wearing, will you?"
Hardly believing that she heard him aright, she unpinned the bud from the bosom of her dress, and placed it in his hand. Jimmy stuffed it into his vest-pocket, threw off his coat and pulled up his shirt- sleeves. With that act Ralph D. Spencer passed away and Jimmy Valentine took his place.
"Get away from the door, all of you," he commanded, shortly.
He set his suit-case on the table, and opened it out flat. From that time on he seemed to be unconscious of the presence of any one else. He laid out the shining, queer implements swiftly and orderly, whistling softly to himself as he always did when at work. In a deep silence and immovable, the others watched him as if under a spell.
In a minute Jimmy's pet drill was biting smoothly into the steel door. In ten minutes--breaking his own burglarious record--he threw back the bolts and opened the door.
Agatha, almost collapsed, but safe, was gathered into her mother's arms.
Jimmy Valentine put on his coat, and walked outside the railings towards the front door. As he went he thought he heard a far-away voice that he once knew call "Ralph!" But he never hesitated.
At the door a big man stood somewhat in his way.
"Hello, Ben!" said Jimmy, still with his strange smile. "Got around at last, have you? Well, let's go. I don't know that it makes much difference, now."
And then Ben Price acted rather strangely.
"Guess you're mistaken, Mr. Spencer," he said. "Don't believe I recognize you. Your buggy's waiting for you, ain't it?"
And Ben Price turned and strolled down the street.

Translators: Nguyễn Bích Phượng, Phan Thị Tuyết Nhung, Nguyễn Thu Thẩm
Instructor: Pham Vu Phi Ho M.A.


Vào mùa thu ở đó vẫn còn chiến tranh, nhưng chúng tôi đã không còn tham gia cuộc chiến nữa. Mùa thu ở Milan lạnh và đêm xuống rất nhanh. Rồi thì đèn điện được bật lên và cảm giác thật là thích thú khi nhìn tạt vào các tủ kính bày hàng dọc theo đừơng phố. Phía bên ngoài các cửa hàng có nhiều thịt thú được treo bán, tuyết phủ đầy trên những bộ lông của mấy con cáo và đuôi của chúng đu đưa trước gió. Những con nai được treo lên cứng đơ, nặng trĩu, và rỗng tuếch, gió thổi làm bật cả lông của mấy con chim nhỏ. Mùa thu lạnh thế đó và gió cứ từ trên núi lùa về.

Chiều nào chúng tôi cũng ở bênh viện, và có nhiều cách để đi đến bệnh viện từ lúc chạng vạng. Hai trong số những cách đó là men theo những con kênh nhưng lại rất lâu. Dù đi cách nào, bạn cũng phải vượt qua một cây cầu bắc qua con kênh để vào bệnh viện. Có ba cây cầu cho bạn tùy ý chọn. Có một người phụ nữ đứng bán hạt dẻ rang trên một trong ba cây cầu này. Thật ấm áp khi đứng trước bếp than củi của cô ấy và hạt dẽ rang cũng sẽ bốc hơi ấm ra khi cho vào túi của bạn. Bệnh viện rất cổ và cũng rất đẹp, bạn vào một cái cổng đi qua một cái sân nhỏ và cuối cùng bạn đi ra ngoài thông qua một cái cổng ở hướng khác. Trên cái sân nhỏ này thường là nơi bắt đầu cho những lễ tang. Đằng sau cái bệnh viện cổ kính này là mấy cái sảnh đường được xây bằng gạch mới và chúng tôi gặp nhau ở đó vào mỗi buổi chiều. Tất cả chúng tôi điều nhã nhặn và thích quan tâm đến những vấn đề của nhau. Chúng tôi ngồi trên những cái máy được chế tạo hoàn toàn khác biệt nhau.

Bác sĩ tới gần cái máy tôi đang ngồi và nói: “ Anh thích làm gì nhất trước lúc chiến tranh xảy ra?” Anh có chơi thể thao không?
Tôi trả lời: “ Có, bóng đá”
“ Tốt” ông tiếp tục nói: “Anh không những có thề chơi đá bóng trở lại mà còn chơi hay hơn nữa đấy.”

Đầu gối của tôi không thể co lại được và chân thì thẳng đuộc từ đầu gối đến mắt cá không hề có bắp chân. Cái máy này giúp đầu gối tôi co duỗi và làm cho nó cử động giống hệt lúc tôi cưỡi xe ba bánh vậy. Nhưng cái máy này vẫn chưa uốn cong được chổ đầu gối tôi mà mỗi khi di chuyển đến gần chổ cong nó lại loang choang. Bác sĩ nói: “Rồi mọi chuyện sẽ ổn thỏa thôi. Cậu là một anh trai trẻ may mắn mà! Cậu sẽ chơi bóng lại được và hay như nhà vô địch đấy”.

Trong cái máy bên cạnh là ông thiếu tá. Ông có một bàn tay bé xíu như của một đứa bé. Ông ấy nháy mắt với tôi trong khi bác sĩ kiểm tra bàn tay của ông. Bàn tay ông được kẹp giữa hai dây da đang tung lên tung xuống và vỗ nhẹ lên các ngón tay cứng đơ. Ông hỏi: “ Và tôi cũng sẽ chơi bóng đá được chứ bác sỉ trưởng? Ông ta đã từng là một tay đấu kiếm cừ khôi. Trước chiến tranh ông từng là một đệ nhất kiếm thủ ở Ý.

Bác sĩ đã đi đến khu vưc làm việc của ông trong một căn phòng nghiên cứu và mang ra một bức ảnh chụp một bàn tay teo nhỏ gần giống với bàn tay của ông thiếu tá. Bàn tay này đã lớn hơn một chút sau khi đươc điều trị bằng máy. Ông thiếu tá dùng bàn tay khỏe mạnh còn lại của mình cầm bức ảnh, nhìn thật kĩ và hỏi: “ Vết thương à?”

“Một tai nạn công nghiệp” bác sĩ đáp.
“Thú vị, thú vị đấy” ông thiếu tá vừa đáp vừa trả lại bức ảnh cho bác sĩ.
“Anh có niềm tin không?”
“Không” ông thiếu tá đáp.

Có ba thanh niên trạc tuổi tôi cùng đến đây mỗi ngày. Họ đều là người dân Milan. Một người đáng lẽ là luật sư, một người đáng lẽ là họa sĩ còn người nọ đã từng có ý định đi lính. Sau khi điều trị bằng máy xong thỉnh thoảng chúng tôi kéo nhau đi đến quán cà phê kề bên Scala. Bởi vì cả bốn chúng tôi đi cùng nên mới đi qua đoạn đường ngắn của khu phố cộng sản. Những người ở đây ghét chúng tôi vì chúng tôi là sĩ quan. Chúng tôi nghe ai đó từ trong quán rượu la lớn“A basso gli ufficiali” khi chúng tôi đi ngang qua. Thỉnh thoảng cũng có thêm một thanh niên đi cùng, thế là chúng tôi có cả thảy măm người. Anh ấy mang một khăn lụa che mặt màu đen vì anh ta không có cái mũi và mặt cậu ta đang được sưả lại. Anh ấy từ học viện quân sự ra trận và đã bị thương trong vòng một giờ ngay lần đầu tiên tham chiến. Các bác sĩ đang sửa lại khuôn mặt cho anh ấy nhưng vì anh là đứa con trong một gia đình lớn tuổi nên rất khó để làm lại cái mũi giống hệt như trước kia. Anh ấy đã từng đến Nam Mỹ làm việc tại một ngân hàng. Nhưng đó là chuyện của ngày xưa, sau này không một ai trong chúng tôi biết được chuyện gì đã xảy ra. Chúng tôi chỉ biết rằng ở đó luôn có chiến tranh nhưng chúng tôi không ra mặt trận nữa.

Tất cả chúng tôi đều có các huân chương giống nhau, ngoại trừ anh bạn có khăn lụa đen che ngang mặt. Anh không có huân chương nào vì anh đã không ở mặt trận đủ lâu. Anh bạn đáng lẽ làm luật sư ấy với dáng cao, khuôn mặt nhợt nhạt từng là Trung Uý ở Ariditi. Anh có tới ba huy chương giống với cái huy chương mà mỗi người chúng chỉ có được một cái thôi. Anh đã sống một thời gian dài cận kề với cái chết và sống hơi biệt lập. Chúng tôi cũng vậy. Không có gì nối kết chúng tôi lại với nhau ngoại trừ mỗi buổi chiều gặp nhau tại bệnh viện. Dù vậy khi chúng tôi đi đến Cova dù chỉ ngang qua một phần nhỏ trong thị trấn, chúng tôi vẫn phải đi dưới bóng tối với ánh sáng đèn và tiếng hát phát ra từ các quán rượu. Đôi khi chúng tôi phải đi xuống lòng đường để vượt qua đám đông nam nữ đang tụ tập trên vỉa hè. Chúng tôi cảm thấy gắn bó nhau hơn bởi đã xảy ra chuyện gì đó ở đây khiến họ ghét chúng tôi mà chúng tôi không thể nào hiểu được.

Tất cả chúng tôi đều biết rõ Cova. Nó lộng lẫy, ấm áp và không quá sáng, chỉ có tiếng ồn và khói thuốc trong những giờ nhất định. Ở đó lúc nào cũng có các cô gái trực ở bàn và luôn có tạp chí trên cái giá treo ở trên tường. Các cô gái ở Cova rất yêu nước, và tôi nhận ra rằng những cô gái phục vụ ở quán cà phê là những người yêu nước nhất ở Ý. Tôi tin rằng cho đến bây giờ họ vẫn còn yêu nước.

Thoạt đầu, các chàng trai rất nể khi nhìn thấy những cái huân chương của tôi và hỏi tôi đã làm những gì để có được chúng. Tôi cho họ xem mấy tờ giấy, được viết bằng thứ ngôn ngữ rất đẹp và đầy những chữ fratellanza và abnegazione, nhưng thực sự mà nói, khi bỏ những tính từ đi có nghĩa là tôi đã được trao các huân chương vì tôi là người Mỹ. Sau đó thái độ của họ đối với tôi có chút gì đó thay đổi. Mặc dù tôi là đồng đội của họ trong công cuộc chống lại kẻ thù nhưng tôi chưa bao giờ thực sự giống một ai trong số họ sau khi họ đã đọc những trích dẫn. Bởi vì không giống như tôi họ đã làm nhiều điều khác để nhận được huân chương. Tôi đã từng bị thương, đó là sự thật, nhưng chúng tôi đều biết rằng đó là bị thương, xét cho cùng đó chỉ là một tai nạn. Tôi chưa bao giờ thấy xấu hổ vì những cái ruy băng này. Dù vậy thỉnh thoảng sau khi uống vài ly cocktail, tôi thử tưởng tượng bản thân mình làm tất cả những điều họ đã làm để có được huânchương. Nhưng khi đi bộ về nhà trong đêm tối, qua những con đường vắng tanh, gió se se lạnh, khi ấy tất cả các cửa hàng đều đã đóng cửa. Tôi cố gắng đi gần bên những ngọn đèn đường, tôi nhận ra rằng tôi sẽ không bao giờ làm được những việc đó, và tôi rất sợ chết. Đêm nằm một mình trên giường, nghĩ đến cái chết tôi cảm thấy sợ và tự hỏi tôi sẽ ra sao nếu tôi ra mặt trận lần nữa.

Ba anh bạn có huy chương trông giống những kẻ diều hâu. Nhưng tôi không phải là một kẻ diều hâu. Tôi có cũng có thể là một kẻ hiếu chiến nhưng chỉ là một kẻ hiếu chiến đối với những ai chưa bao giờ tham chiến. Ba người họ biết rõ điiều đó. Vì vậy chúng tôi tách rời nhau. Tuy nhiên tôi lại thân với anh bạn bị thương ngay lần đầu tiên ra trận kia. Bởi vì anh ta sẽ không biết trước được mình sẽ được triệu tập như thế nào và cũng có thể anh không bao giờ được chấp nhận nữa. Tôi thích anh ấy bởi vì cũng giống như tôi, anh không phải là một kẻ hiếu chiến.

Ông thiếu tá, người đã từng là đệ nhất kiếm thủ, không tin vào sự mạo hiểm. Ông thường bỏ nhiều thời gian để chỉnh lỗi nhữ pháp cho tôi khi chúng tôi tập luyện trong những cái máy. Ông khen tôi nói tiếng Ý giỏi. Chúng tôi nói chuyện với nhau rất ăn ý. Đã có lần tôi bảo rằng tiếng Ý quá dễ đối với tôi nên tôi không thấy thích thú vói nó lắm. Chúng dễ học quá. “Ồ. vâng” Ông thếu tá đáp. Ông Thiếu Tá góp ý “Vậy thì tại sao anh không nên trau dồi thêm văn phạm”. Vì vậy chúng tôi đã học văn phạm. Chẳng bao lâu tiếng Ý trở nên rất khác so với những gì tôi nghĩ đến mức tôi sợ phải nói chuyện với ông ấy. Mãi đến khi tôi đã nắm vững ngữ pháp tôi mới tự tin nói chuyện với ông trở lại.
Ông thiếu tá đến bệnh viện rất đều đặn. Tôi không bao giờ thấy ông vắng mặt một ngày nào mặc dù tôi chắc chắn rằng ông ấy không bao giờ tin vào mấy cái máy chữa bệnh ấy. Đã có lúc không ai trong chúng tôi tin vào những cái máy. Và có một ngày ông thiếu tá nói rằng tất cả đều là vớ vẫn. Những cái máy hoàn toàn mới và chúng tôi là những người đầu tiên dùng chúng. Ông thiếu tá xem điều này là một ý tưởng ngu ngốc. Ông ta nói: “tất cả chỉ là lí thuyết cũng giống như lý thuyết suông khác thôi”. Khi tôi không học ngữ pháp, ông ấy nói rằng tôi là một kẻ ngốc ngếch nhưng không đến mức phải bị ghét bỏ, và anh ấy cũng là thằng ngốc nên mới khó chịu với tôi. Ông ta là một người đàn ông nặng nề. Ông ngồi tựa thẳng lưng trên ghế, tay phải ấn mạnh lên cái máy, mắt nhìn thẳng vào tường và những cái đai đang kẹp mấy ngón tay và đưa lên đưa xuống.

“Nếu chiến tranh kết thúc thì anh sẽ làm gì? ” anh ấy hỏi đầy đủ cú pháp.
“ Tôi sẽ về nước Mỹ”
“Anh sẽ lập gia đình chứ?”
“Không phải” nhưng tôi cũng hy vọng là vậy”
“Anh còn hơn cả một thằng ngốc nữa”, ông ấy nói. Ông ấy trông có vẻ giận dữ và tiếp “Nam nhi không được có vợ”
“Tại sao thế Signor Maggiore”
“Đừng gọi tôi là Signor Maggiore”
“Nhưng tại sao nam nhi không được kết hôn?”
“Người đó không thể kết hôn, không thể được” anh ta giân dữ nói.
“Nếu anh ta biết mình mất đi mọi thứ thì anh ta không nên đặt mình vào tình thế đó. Anh ta không nên để mình rơi vào tình trạng mất hết mọi thứ. Anh ta nên tìm những thứ mà mình không thể mất.”

Ông ấy nói bằng giọng điệu tức giận và cay đắng, mắt chằm chằm.
“Tại sao nhất thiết anh ta phải mất nó chứ?”

“ Anh ta sẽ đánh mất” ông thiếu tá đáp. Ông ấy đang nhìn vào tường. Sau đó ông nhìn xuống cái máy và thình lình giật mạnh bàn tay nhỏ ra khỏi mấy dây đai và đập mạnh xuống đùi. Ông ấy gần như thét lên, “Anh ta sẽ mất nó thôi, đừng cãi với tôi!” Sau đó ông gọi người điều khiển máy thật to, “Đến đây tắt cái đồ chết tiệt này giúp tôi”.

Ông ta đi qua một cái phòng khác để điều trị bằng ánh sáng và xoa bóp. Sau đó tôi nghe ông hỏi bác sĩ liệu anh có thể sử dụng điện thoại của mình không và đóng sầm cửa lại. Lúc ông ấy quay trở lại thì tôi đang ngồi trên một cái máy khác. Ông ấy mặt cái áo choàng không tay, đội cái mũ lưỡi trai. Anh đi thẳng tới cái máy tôi đang ngồi rồi đặt tay lên vai tôi và nói, “Tôi xin lỗi” Anh ấy vừa nói vừa dùng cánh tay khỏe của mình vỗ nhẹ lên vai tôi, “ Lẽ ra tôi không nên thô lỗ với anh, vợ tôi vừa mới qua đời, hãy thông cảm cho tôi nhé!”

“Ồ”, Tôi nói, với cảm giác đầy cảm thông, “ Tôi xin lỗi”.

Anh ấy vẫn đứng đó và mím chặt môi lại: “Quả thật là rất khó”, Ông ấy nói, “Tôi không thể xin từ chức được.”

Ông ấy nhìn lướt qua tôi rồi lại nhìn thẳng ra ngoài cửa sổ. Ông ta bắt đầu khóc. “Tôi hoàn toàn không thể nào từ chức được”, Ông ta nói trong nghẹn ngào. Ông khóc và mắt đăm chiêu nhìn lên. Ông đứng thẳng trong tư thế của một người lính, hai hàng nước mắt chảy trên gò má, môi mím chặt, anh ấy đi lướt qua những cái máy rồi bước ra khỏi cửa. Bác sĩ nói vói tôi rằng vợ của anh thiếu tá rất trẻ và họ vẫn chưa kết hôn mãi đến khi ông ấy hoàn toàn được giải ngũ. Cô ta đã qua đời vì mắc bệnh viêm phổi chỉ sau vài ngày phát bệnh. Không ai ngờ rằng cô ta sẽ mất. Ông thiếu tá đã không đến bệnh viện ba ngày. Cho đến ngày thứ tư, anh ấy đến bệnh viện với giờ giấc như thường lệ. Ông ấy đeo một đai đen trên tay áo đồng phục của mình. Khi ông ấy trở lại, xung quanh trên tường lúc này treo nhiều khung ảnh lớn, chụp lại đủ loại vết thương trước và sau khi được điều trị bằng máy. Trước cái máy của ông thiếu tá là ba bức ảnh của ba bàn tay giống như bàn tay của ông ấy, chúng đã được chữa lành lặn hoàn toàn. Tôi không biết bác sĩ tìm đâu được mấy tấm ảnh ấy nhưng tôi luôn ý thức được rằng chính chúng tôi là người đầu tiên sử dụng mấy cái máy đó. Những bức ảnh đó cũng không thể lay động ông thiếu tá nên ông ấy cứ mãi nhìn ra cửa sổ.

Translators: Trần Phạm Thanh Hương, Phạm Hồng Loan, Vũ Minh Quỳnh Khanh
Instructor: Pham Vu Phi Ho M.A.

Chiến tranh vẫn tiếp tục nổ ra vào mùa thu nhưng chúng tôi không còn phải tham chiến nữa. Trời thu ở Milan lạnh và màn đêm thì buông xuống từ rất sớm. Rồi thì những ngọn đèn điện cũng sáng lên, và thật dễ chịu khi nhìn vào các ô cửa kính của các quầy hàng dọc hai bên đường. Bên ngoài các cửa hiệu treo nhiều thú săn, tuyết rắc trắng xoá trên bộ lông cuả những con cáo, và gió thổi tốc ngược đuôi của chúng lên. Những con hươu bị treo trông cứng đờ, nặng nề và rỗng ruột. Trên không, những chú chim nhỏ tung cánh bay trong gió và bị gió lật ngược bộ lông chúng lên. Gió thổi từ trên núi xuống khiến tiết thu rất lạnh.

Tất cả chúng tôi đến bệnh viện đều đặn mỗi buổi chiều, và có nhiều ngã đi bộ băng ngang thị trấn, xuyên qua bóng tối lờ mờ lúc chạng vạng để đến đó. Hai ngã trong số đó dọc theo những con kênh nhưng rất xa. Mặc dù vậy, phải luôn đi qua một cây cầu bắc ngang con kênh để đi vào bệnh viện. Có ba chiếc cầu để lưạ chọn. Một trong số đó là nơi một phụ nữ bán hạt dẻ nướng. Thật là ấm áp khi đứng trước lò nướng của bà ấy, và càng ấm hơn khi bỏ hạt dẻ rang vào túi bạn. Bệnh viện rất cổ kính và đẹp. Bạn có thể bước vào qua cánh cổng, đi băng ngang qua một cái sân và đi ra bằng cổng ở phía đối diện. Thường thì các lễ tang được tổ chức tại cái sân này. Bên kia bệnh viện là một dãy nhà gạch mới, và tại đó chúng tôi gặp nhau mỗi buổi chiều, tất cả đều rất nhã nhặn, hứng thú về mọi chuyện trên đời khi ngồi trên các máy tập vật lý trị liệu.

Vị bác sĩ tiến đến chỗ chiếc máy nơi tôi đang ngồi và hỏi: “Trước chiến tranh anh thích làm điều gì nhất? Anh có chơi thể thao không?”
“Có, bóng đá.”
Ông nói. “Tốt. Anh sẽ có thể chơi bóng lại hay hơn bao giờ hết.”

Đầu gối của tôi không gập lại được, từ đầu gối đến mắt cá chân tôi thẳng đờ không có bắp chuối. Chiếc máy này giúp tôi tập co chân và chuyển động giống như đạp xe đạp. Nhưng cái chân chưa gập lại được, và thay vào đó chiếc máy lại bị tròng trành khi đến chỗ cần gập lại. Vị bác sĩ nói: “Tất cả sẽ qua đi thôi. Anh là một thanh niên may mắn. Anh sẽ lại chơi bóng như một nhà vô địch ấy chứ”.

Trên chiếc máy kế bên là một thiếu tá có một bàn tay nhỏ như tay của trẻ con. Ông ta nháy mắt với tôi khi vị bác sĩ đến khám tay cho ông, bàn tay nằm giữa hai dây da đập lên đập xuống và đập vào những ngón tay cứng đờ. Ông nói: “Và tôi cũng chơi bóng đá được chứ hả bác sĩ?” Ông ấy đã từng chơi kiếm cừ khôi, và là tay kiếm vô địch nước Ý trước chiến tranh.

Vị bác sĩ quay về văn phòng của mình nằm trong căn phòng ở phía sau và lấy ra một tấm phim chụp bàn tay cũng bị teo nhỏ như bàn tay của ông thiếu tá trước khi điều trị bằng máy tập và sau đó thì nó có to thêm ra một chút. Ông thiếu tá cầm tấm phim bằng bàn tay lành lặn của mình, xem kỹ và hỏi: “Vết thương à?”

“ Một tai nạn lao động”, vị bác sĩ nói.
“Rất thú vị, rất thú vị”, thiếu tá nói, rồi ông ấy đưa tấm phim lại cho vị bác sĩ.
“Ông có tự tin không?”
“Không.” Ông thiếu tá trả lời.

Ở đây còn có ba thanh niên trạc tuổi tôi đến điều trị cùng một ngày. Tất cả bọn họ đều là dân Milan, một anh trong số họ từng có ý định trở thành luật sư, một anh định làm họa sĩ và một người muốn là quân nhân; và sau những buổi tập vật lý trị liệu, thỉnh thoảng chúng tôi cũng cùng nhau đến quán cà phê Cova ngay cạnh cửa hàng Scala. Chúng tôi đi đường tắt qua doanh trại của những người cộng sản vì chúng tôi có đến bốn người đi chung với nhau. Dân chúng quanh đó ghét chúng tôi vì chúng tôi là sĩ quan, và ai đó trong quán rượu la to lên: “A basso gli ufficiali!” khi chúng tôi đi ngang qua.

Thỉnh thoảng nhóm chúng tôi còn có thêm một người nữa là năm người. Anh này thường đeo một chiếc khăn tay bằng lụa đen che nửa mặt vì anh ta không có mũi, mặt thì phải phẫu thuật lại hoàn toàn. Anh chàng rời học viện quân sự và ra thẳng mặt trận nhưng chưa đầy một tiếng đồng hồ sau thì đã bị thương khi lần đầu chiến đấu trong hàng ngũ tiên phong. Họ phẫu thuật khuôn mặt cho anh ta nhưng do anh ta xuất thân từ một gia đình cổ điển nên họ không thể tìm được cái mũi nào thích hợp. Anh ta đến Nam Mỹ và làm việc cho một ngân hàng, nhưng đó là chuyện xảy ra lâu rồi, chứ lúc bấy giờ không ai trong chúng tôi biết được rằng tương lai mình sẽ đi về đâu. Chúng tôi chỉ biết rằng chiến tranh vẫn đang nổ ra mà mình không còn được tham chiến nữa.

Chúng tôi đều được trao cùng một loại huy chương, trừ anh chàng phải đeo tấm lụa đen che mặt vì nó ở tiền tuyến không đủ lâu để nhận bất cứ huy chương nào. Anh chàng cao lêu nghêu với khuôn mặt tái xanh từng mong ước trở thành luật sư đã được phong hàm trung uý hải quân Ý. Hắn có đến 3 huy chương mà chúng tôi chỉ nhận được một trong số đó. Một thời gian dài, anh ta đã sống với tử thần và có chút lạnh nhạt. Tất cả chúng tôi đều hơi lạnh nhạt và không có gì liên kết chúng tôi lại với nhau trừ việc chúng tôi gặp nhau mỗi buổi chiều ở bệnh viện. Mặc dù vậy, khi chúng tôi cùng đi đến quán cà phê Cova qua khu vực lộn xộn của thị trấn, đi trong đêm tối với ánh đèn và tiếng hát từ các quán rượu, và đôi khi phải đi vào con đường có đám đông tụ tập trên vỉa hè khiến chúng tôi phải chen lấn để đi qua. Chúng tôi cảm thấy gắn bó với nhau bởi đã có gì đó xảy ra mà ngay cả họ, chính những người không thích chúng tôi cũng không thể hiểu được.

Chúng tôi đều biết rất rõ quán cà phê Cova nơi khá tiện nghi và ấm áp, không quá sáng, quá ồn ào, có những giờ quy định không hút thuốc lá, và luôn có nhiều nữ tiếp viên đứng cạnh các bàn cùng với các bảng hướng dẫn cặn kẽ trên giá treo tường. Những cô gái ở quán Cova này rất yêu nước, và tôi thấy rằng những người yêu nước nhất nước Ý là các cô tiếp viên quán cà phê. Và tôi tin là đến bây giờ vẫn vậy.

Ban đầu, những anh chàng này rất trân trọng mấy tấm huân chương của tôi nên hỏi tôi đã làm được gì để có chúng. Tôi đưa họ xem những quyết định phong thưởng được viết bằng ngôn từ rất hoa mỹ và đầy tình đồng chí và đức hy sinh, nhưng thực sự mà nói rằng với những tính từ bị lược bỏ, tôi nhận được những huy chương này bởi vì tôi là người Mỹ. Sau đó, thái độ của họ với tôi có thay đổi chút ít mặc dù tôi với họ vẫn là đồng minh chống lại kẻ thù. Tôi là một người bạn nhưng tôi thực sự không bao giờ là một trong số họ sau khi họ đọc những lời tuyên dương vì nó khác xa với họ và họ phải làm những việc rất khác để nhận được những huy chương đó. Tôi đã bị thương, điều đó là sự thật; nhưng tất cả chúng tôi đều hiểu rằng sau cùng, bị thương cũng chỉ đơn giản là một tai nạn. Tôi chưa bao giờ xấu hổ vì những dây huy chương này, dù vậy thỉnh thoảng sau những giờ uống cocktail, tôi tự tưởng tượng làm tất cả mọi thứ để nhận được những huy chương giống họ. Nhưng mỗi khi một mình về nhà trên con đường vắng lạnh và mọi cửa hiệu đều đã đóng, cố gắng đi gần ánh đèn đường thì tôi hiểu là tôi sẽ chẳng bao giờ làm được như thế; tôi rất sợ chết và mỗi khi nằm một mình lúc nửa đêm, sợ chết và tự hỏi sẽ như thế nào nếu mình phải ra chiến trường lần nữa.

Với những huy chương này, ba anh chàng giống như những con chim ưng săn mồi; và tôi không phải là con chim ưng, mặc dù tôi có vẻ như vậy với những người chưa bao giờ đi săn; ba người họ biết rõ hơn ai hết và vì thế chúng tôi dần xa cách. Nhưng tôi vẫn là bạn tốt với anh chàng bị thương ngay ngày đầu ra trận ở tuyến đầu, vì nó sẽ không bao giờ biết nó sẽ trở thành như thế nào; vì thế nó cũng không bao giờ được chấp nhận như tôi; và tôi thích nó bởi vì tôi nghĩ có lẽ nó cũng sẽ không thể trở thành một con chim ưng được.

Ông thiếu tá, người từng là một tay kiếm vĩ đại, không tin vào sự can đảm, và dành nhiều thời gian trong khi chúng tôi ngồi ở các máy tập để sửa lỗi văn phạm của tôi. Ông ta khen tôi ở cách tôi nói tiếng Ý, và chúng tôi đã nói chuyện với nhau rất dễ dàng. Một hôm tôi nói rằng tiếng Ý có vẻ như là ngôn ngữ khá dễ với tôi nên tôi không cần bận tâm nhiều về nó; mọi thứ rất dễ nói. “À thế à,” thiếu tá nói. “Thế sao anh không áp dụng văn phạm đi?” Vì thế chúng tôi áp dụng văn phạm, ngay tức khắc tiếng Ý là ngôn ngữ khó đến nỗi tôi sợ nói với ông đến khi nào tôi có sẵn văn phạm trong đầu.

Ông thiếu tá đến bệnh viện rất đều đặn, tôi không nghĩ ông ta vắng ngày nào, dù vậy tôi chắc ông ta không tin vào các máy tập này. Có một lần, khi không ai trong số chúng tôi tin các máy này, và một hôm ông thiếu tá nói các thứ đó là vớ vẩn vì lúc đó các máy này vẫn còn mới nên chúng tôi là những người chứng minh công dụng của chúng. Ông nói đó là một ý tưởng ngu ngốc, “một lý thuyết giống như những lý thuyết khác”. Tôi đã không học văn phạm, và ông ấy nói tôi là một thằng ngốc không thể bị ghét bỏ, và ông ta là một thằng khờ khi bận tâm đến tôi. Ông ta là một người đàn ông thấp bé và ngồi thẳng người trên ghế, bàn tay phải thọt vào máy và nhìn thẳng vào bức tường trong khi các dây đai đập lên xuống vào các ngón tay ông.

Ông ấy hỏi tôi: “Cậu sẽ làm gì khi chiến tranh kết thúc, nếu nó thật sự chấm dứt? Nói cho đúng văn phạm nhé!”

“Tôi sẽ trở về Mỹ.”
“Cậu lập gia đình chưa?”
“Chưa, nhưng tôi mong là sẽ như vậy.”
“Cậu còn tệ hơn cả một tên ngốc nữa” – ông ấy nói. Ông dường như rất tức giận – “Một thằng đàn ông thì không nên lấy vợ.
“Tại sao vậy, ngài Maggiore?”
“ Đừng có gọi tôi là ‘ngài Maggiore”.
“Tại sao đàn ông nên được lấy vợ?”

“Đàn ông không nên lấy vợ. Đàn ông không nên lấy vợ” Ông nói một cách giận dữ. “Nếu một nguời đàn ông sẽ mất tất cả, anh ta không nên đặt mình vào vị trí mất mát đó. Đàn ông nên tìm cho mình cái giá trị vĩnh cữu nào đó.”

Ông ấy nói một cách rất giận dữ và chua chát, và nhìn thẳng về phía trước khi ông nói.
“Nhưng tại sao anh ta nên cần thiết phải mất nó chứ?”

“Anh ta sẽ mất nó.”ông đại tá nói. Ông đang nhìn chằm chằm vào bức tường. Rồi ông đưa mắt xuống chiếc máy và bất thình lình giật mạnh bàn tay ra khỏi khay của máy trị liệu. “Sẽ mất” – ông ta gần như hét lên. “Đừng cãi tôi”. Sau đó ông ta kêu người phụ trách máy tới. “Đến đây và tắt cái máy chết tiệt đi”.

Ông ta trở lại một phòng khác dành cho việc điều trị nhẹ và xoa bóp. Rồi tôi nghe ông ấy nhờ bác sĩ cho dùng điện thoại và ông đóng sập cửa lại. Khi ông trở lại thì tôi đã đổi sang một cái máy khác. Ông mặc cái áo khoác vào, và ông đi đến thẳng chỗ tôi, đặt tay lên vai tôi.

“Tôi rất xin lỗi.” Ông nói, vỗ vỗ vai tôi bằng bàn tay lành lặn của mình. “Tôi không nên thô lỗ như thế. Vợ tôi vừa mất. Cậu bỏ qua cho tôi nha.”

“Ồ!” – tôi nói, cảm thấy đau đớn thay cho ông – “Tôi rất lấy làm tiếc.”

Ông đứng bất động cắn môi lầm bầm: “Thật là rất khó khăn.” Ông nói. “Tôi không chịu được”.

Vẫn với tư thế đó, ông ấy nhìn qua cửa sổ, rồi khóc với tâm trạng thật chán nản “Tôi hoàn toàn không chịu đựng được nữa rồi”. Ông ấy tiếp tục khóc, mắt thì nhìn vào hư không, bước chân vô định hướng nhưng vẫn đúng kiểu đi của người lính. Hai hàng nước mắt chảy dài xuống gò má, rồi xuống tận môi. Ông ấy đi từ từ ra khỏi cửa.

Vị bác sĩ kể với tôi rằng vợ của ông thiếu tá, một phụ nữ còn rất trẻ và là người mà ông thiếu tá không kết hôn mãi cho đến khi ông ấy bị đứng hẳn bên lề cuộc chiến, đã chết vì viêm phổi. Cô chỉ mới bệnh có vài ngày thôi. Không ai ngờ được là cô ấy sẽ chết. Ông thiếu tá vắng mặt tại bệnh viện ba ngày. Sau đó ông lại đến vào giờ như thường lệ, đeo một dải băng đen trên tay áo đồng phục. Khi ông ấy quay lại thì đã có mấy tấm phim phổi treo quanh tường với đủ kiểu bàn tay bị thương trước và sau khi được điều trị bằng máy. Phía trước máy của ông thiếu tá là ba tấm phim chụp bàn tay giống như bàn tay của ông thiếu tá khi đã hồi phục hoàn toàn. Tôi không biết ông bác sĩ kiếm ở đâu ra những tấm phim đó, vì chúng tôi là những người đầu tiên sử dụng máy này. Nhưng những tấm phim ấy cũng chẳng có tác động tích cực nào đến ông thiếu tá vì ông ấy chỉ nhìn ra cửa sổ thôi.

Translators: Lưu Hoàng Ân, Nguyễn Thiệt Bình, Lương Trí Dũng, Nguyễn Đình Như Hà
Instructor: Pham Vu Phi Ho M.A.

I

Khi cô Emily Grierson qua đời, cả thị trấn chúng tôi đều đến dự tang lễ của cô: đàn ông thì tỏ ra đầy kính trọng như chứng kiến một tương đài sụp đổ, còn phụ nữ hầu hết vì tính hiếu kỳ muốn dòm ngó phía trong nhà cô Emily, nơi ít nhất mười năm qua chẳng ai đặt chân tới ngoại trừ một lão nô bộc kiêm luôn việc vườn tược và bếp núc.

Ngôi nhà cô Emily được làm bằng gỗ lớn vuông vắn vốn một thời mang màu trắng tinh, trang hoàng cùng với nó là những mái vòm cong, những chóp nhọn, những ban-công dạng cuốn mang đậm nét thanh nhã của những năm bảy mươi và nó nằm trên một nơi từng một thời là khu phố sang trọng ở chỗ chúng tôi. Nhưng rồi mọi thứ xung quanh nó, cả những danh hiệu cổ đáng quí nhất, cũng dần bị lấn, bị xóa đi bởi những gara và những xưởng dệt bông: duy nhất chỉ còn lại đó là nhà của cô Emily nổi lên trong những chiếc xe chở bông và những trạm bơm ga bằng sự bướng bỉnh và kiểu lối suy tàn của nó, một cảnh gai mắt giữa muôn cảnh gai mắt. Và giờ đây cô Emily cũng đã tiếp bước theo những danh hiệu đáng quí kia - đang nằm trong nghĩa trang rợp bóng tùng giữa những dãy mồ vô danh của những chiến sĩ liên quân miền Bắc hoặc miền Nam mà đã hi sinh trên chiến trường Jefferson.

Thưở sinh thời, cô Emily là một người nặng về truyền thống, trách và là đối tượng để người khác phải chăm lo, một dạng như nghĩa vụ đời đời vốn đã đè nặng lên thị trấn từ 1894 lúc đại tá kiêm thị trưởng Sarotrist – người mà đã đẻ ra sắc lệnh cấm tuyệt phụ nữ da màu mang tạp dề mà đi trên phố- miễn thuế cho cô. Nhưng điều đó không có nghĩa là cô Emily nhận sự bố thí từ người khác. Đại tá Statorist vẽ ra một câu chuyện mà trong đó cha của cô Emily cho thị trấn mượn tiền và the nguyên tắc sòng phẳng thị trấn đưa ra cách này để trả nợ lại cho ông. Chỉ những người cùng thời và cũng cùng suy nghĩ với đại tá Statorist mới làm cách đó và cũng chỉ đàn bà mới tin vào nó.

Khi thế hệ trẻ trở thành thị trưởng và ủy viên hội đồng thành phố với những tư tưởng mới mẻ hơn, họ cảm thấy không mấy hài lòng với sự sắp đặt trước kia. Vào đầu năm, họ gửi cô ấy một giấy báo thuế. Khi sang đến tháng hai, họ vẫn chưa nhận được hồi âm nào. Họ viết cho cô một công văn chính thức yêu cầu cô lúc nào thuận tiện thì hãy đến làm việc tại văn phòng quận trưởng. Một tuần sau đích thân thị trưởng viết thư đề nghị cô đến hoặc chính ông ấy sẽ đánh xe đến gặp cô và ông ta nhận được hồi âm là một tờ giấy kiểu xưa với kiểu chữ đẹp, nhỏ được viết liền một mạch trong một màu mực bị phai trong đó cô bảo rằng sẽ không hề ra ngoài. Kèm theo tờ hồi âm ấy là giấy báo thuế mà không có lời giải thích nào.

Hội đồng ủy viên thành phố bèn triệu tập một cuộc họp bất thường. Đại diện cuar hoj đến nhà gõ cửa và đợi ở trước nhà cô, một nơi chưa có ai bước vào từ tám hay mười năm trước lúc mà cô thôi không dạy vẽ trên đồ gốm nữa. Ông lão da đen dẫn đường cho họ vào một đại sảnh mờ tối tại đó có một cầu thang dẫn họ vào một nơi còn tối hơn. Nơi đó đầy mùi bụi bẩn và ẩm móc nằm trong một không gian lạnh lẽo chật hẹp. Ông lão da đen lại dẫn họ vào phòng khách. Bàn ghế trong phòng được trang bị chắc chắn và đều được bọc da. Khi ông lão mở màn ở một cửa sổ, họ nhận ra rằng những mảng da đều bị rạng và khi ngồi xuống lớp bụi mỏng bay lên và bám vào quanh đùi họ, cùng làn bụi dưới ánh mặt trời. Nằm phía trước lò sưởi là chân dung của cha cô Emily bằng than chì được đặt trên một giá vẽ mạ vàng hoen rỉ.

Khi cô bước vào, họ đều đứng dậy. Đó là một người phụ nữ mập mạp và nhỏ bé trong bộ đồ đen với sợi dây chuyền vàng mỏng kéo dài tới thắt lưng và mất hút trong sợi dây lưng. Người phụ nữ ấy chống gậy bằng gỗ mun mà cái cái tay cầm bằng vàng của nó cũng đã bị xạm đi. Khung xương cô nhỏ bé và gầy gò, có lẽ vì thế mà vẻ ngoài của cô, với những người khác chỉ đơn thuần là tròn trịa, thì với cô lại béo phì. Đôi mắt cô mất hút dưới nếp da mập xuệ trên gương mặt, trông như thể hai mẫu than bị nhấn chìm trên một miếng bột nhão khi chúng đang đảo qua gương mặt từng người đến lúc họ tuyên bố mục đích của mình.

Cô ta chẳng hề mời họ ngồi. Đứng ở nơi ngưỡng cửa, cô ta im lặng lắng nghe tới khi người phát ngôn của họ chợt ngừng. Lúc ấy, họ có thể nghe rõ tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ đã bị che khuất ở cuối sợi dây chuyền vàng kia.

Cô ta cất vọng một cách khô khan, lạnh lung “tôi chẳng phải đóng thuế gì ở Jefferson này cả. Đại tá Satorist đã giải thích với tôi như thế. Có lẽ ai đó trong quí vị nên xem lại hồ sơ của thành phố này và tự tìm hiểu lấy đấy.”

- Nhưng chúng làm rồi đấy chứ. Cô Emily à, chúng tôi chính là chính quyền thành phố. Bộ cô chưa nhận được giấy báo thuế do chính ông quận trưởng ký hay sao?

- Có tôi có nhận, cô Emily nói, có lẽ ông ta tự cho minhg là quận trưởng. Tôi chẳng phải đóng thuế gì ở Jefferson cả.
- Nhưng sổ sách thì không ghi như vậy, cô hiểu cho là chúng tôi phải…
- Đi mà gặp đại tá Statorist. Ở Jefferson tôi chẳng phải đóng thuế gì cả.
- Nhưng cô Emily…

‘Đi mà gặp đại tá Statorist (Đại tá Statorist đã qua đời gần mười năm trước rồi). Tôi chẳng có thuế má gì ở Jefferson này cả, Tobe’ ông lão da đen xuất hiện ‘Dẫn đường cho các quí ông này ra.’

II

Và rốt cuộc cô Emily đã thắng được bọn họ một cách đáng khâm phục, như cô đã từng đánh bại các bậc cha chú ba mươi năm về trước vì lý do mùi hôi thối bốc ra từ nhà cô.

Lúc ấy, cha cô đã mất được hai năm và người yêu của cô– vốn được chúng tôi tin là người sẽ lấy cô, vừa mới bỏ đi. Từ khi cha cô mất, cô Emily ít khi rời khỏi nhà hơn và sau khi người yêu bỏ đi, mọi người hầu như không còn thấy cô nữa. Một vài bà trong xóm đánh liều đến tiếp xúc với cô nhưng được đáp lại và dấu hiệu duy nhất của sự sống ở nơi ấy chỉ là ông lão dao đen – lúc ấy còn trẻ - vẫn cứ ra ra, vào vào cùng cái giỏ đi chợ .

Các mụ đàn bà trong xóm xì xầm với nhau về mùi hôi thối bốc ra từ nhà cô Emily và họ không ngạc nhiên về mùi thối đó vì họ cho rằng làm sao mà một người đàn ông giữ bếp núc ngăn nắp được. Thế là có mối bất bình giữa đám người nhiều chuyện và thô kệch với dòng họ Giersons.
Một mụ đàn bà – hàng xóm của cô Emily đến phàn nàn với ngài thị trưởng Judge Stevens, tám mươi tuổi.

Viên thị trưởng hỏi “Bà bảo tôi phải làm gì bây giờ?”

Mụ ta đáp trả “Khó gì chứ, gởi cô ta 1 yêu cầu để ngưng ngay mùi hôi thối đó lại, không còn luật pháp gì nữa hay sao?”

Viên thị trưởng trả lời “tôi nghĩ nó không cần thiết như ậy đâu, có lẽ mùi thối đó từ con rắn, hay con chuột mà lão nô bộc đã giết và ném nó ra sân. Tôi sẽ nói chuyện với lão ta sau.”

Hôm sau viên thị trưởng lại nhận thêm hai lời phàn nàn . Một người đàn ông tới đưa ra một lời khẩn cầu. “Thưa ngài chúng ta phải làm gì đó để ngừng nó lại. Bất đắc dĩ tôi sẽ quấy rầy nhà cô Emily, nhưng nó hoàn toàn đúng. “ Tối đó một cuộc họp được triệu tập gồm ba người đứng tuổi và một thanh niên – một thành viên của thế hệ đi sau”.

Chàng thanh niên nói “Thật là đơn giản, chúng ta chỉ cần gởi yêu cầu cô ta lau chùi sạch và cho cô ta thời gian để làm việc đó, và nếu cô ấy không thì...”

Ông thẩm phán Stevens nói “Quỷ tha ma bắt, rồi ông sẽ nói thẳng vào mặt một người phụ nữ rằng bà tôi hôi hám hay sao?”

Và rồi, hơn giữa khuya hôm sau bốn người đàn ông trong xóm băng qua sân cỏ nhà cô Emily và lẻn vào nhà như những tên trộm. Họ đánh hơi dọc theo cái hầm nhà xây bằng gạch và leo qua cánh cửa thông hơi phía trên hầm. Một trong số họ thọt tay vào bao vôi trên vai anh ta và rải từng nắm đều trên lối đi. Họ phá cửa và đi vào rải vôi khắp cả căn hầm. Khi họ quay ra, họ nhìn thấy cô Emily đang ngồi bên trong cánh cửa sổ, im lặng như một pho tượng. Họ lẵng lẽ băng qua bãi cỏ và đi sâu vào bóng râm của những bóng cây bồ đề dọc bên đường. Sau một hay hai tuần mùi hôi biến mất.

Cũng từ đó mọi người cảm thấy thương hại cho cô ấy. Dân trong xóm nhớ về bà Wyatt, bà cô của cô Emily, sau cùng đã phát điên lên vì nhận ra rằng dòng họ Giersons đã quá đề cao về mình. Không có người đàn ông nào hoàn thiện với cô Emily cả. Chúng thường hình dung những người trong dòng họ của cô như trên một bức ảnh – Cô Emily dáng người thanh mảnh trong trang phục màu trắng, phía trước là cha cô, xoay lưng lại với cô và đôi bàn tay ông ta cầm một cây roi ngựa, cả hai cha con nổi bật bên trong khung hình. Vì vậy khi cô ba mươi tuổi mà vẫn chưa có chồng, chúng tô nào sung sướng gì, chỉ là chúng tôi cảm thấy được thỏa mãn. Thậm chí ngay khi có căn bệnh điên loạn trong gia đình cô cũng chằng thèm dòm ngó đến nếu điều đó có thật sự xảy ra.

Khi cha cô ấy chết, tất cả gia sản để lại cho cô ấy chỉ là ngôi nhà và mọi người đã vui mừng cho cô ấy. Nhưng rồi cuối cùng, họ lại thương hại cho cô Emily. Bị bỏ rơi và sống trong hoàn cảnh nghèo nàn, cô mới thấm thía được thế thái nhân tình. Bây giờ cô đã hiểu ra giá trị của một đồng xu như thế nào.

Sau hôm thân phụ cô mất, tất cả mụ đàn bà trong xóm đến chia buồn và giúp đỡ cô. Và như phong tục, cô Emily đứng chào họ tại cánh cửa chính, cô ăn bận như ngày thường, và không có vẻ buồn bã trên mặt cô ấy. Cô ấy bảo là cha cô ấy chưa mất. Cô Emily cứ quả quyết như vậy đến ngày thứ ba, chỉ khi các vị mục sư đến viếng và các vị bác sĩ thuyết phục cô ấy để cho họ chôn cất thi thể. Rồi mãi đến khi họ tạo áp lực cho cô ấy, thì cô mới chịu nghe lời, họ vội vã chôn cất cha cô.

Tất cả chúng tôi không ai nói cô ta điên cả. Chúng tối chắc là cô ấy chẳng thể nào làm khác được. Chúng tôi nhớ lại lúc cha cô ấy còn sống, ông thường xô đuổi các chàng trai khi họ đến nhà chơi, và chúng tôi bây giờ đã hiểu cô ấy không còn gì cả, cô chỉ còn cách níu kéo cái mà đã tước đoạt đi mọi thứ của cô ấy, như mọi người vẫn thường làm.

III

Cô bệnh khá lâu, khi chúng tôi gặp cô tóc cô đã cắt ngắn khiến cô trông giống như một cô gái có nét gì đó như những hình vẽ thiên thần trên cưa kính màu của nhà thờ - vừa có vẽ bi thương lại vừa trong sáng.

Thị trấn vừa ký kết hợp đồng lát gạch lề đường, và vào mùa hè sau năm thân phụ cô qua đời, họ bắt đầu tiến hành công việc. Công ty xây dựng đem đến bọ phu da đen, những con la và máy móc, cùng người quản đốc tên là Homer Baron, một gã Bắc Mỹ - cao to, da ngăm đen , tháo vát, giọng nói ồm ồm và đôi mắt sang hơn nước da. Bọn trẻ thường xúm lại thành từng đám bu quanh gã để nghe gã la mắng chửi rủa bọn da đen và nghe bọn này cất tiếng hát theo tiếng cuốc đất. Không lâu sau, gã đã biết hết mọi người trong thị trấn. Mỗi khi nghe có tiếng cười rộ ở đâu đó là y như rằng Homer Barron tâm điểm của cuộc vui. Thời gian ấy vào những chiều Chủ nhật, chúng tôi bắt đầu thấy gã và cô Emily đi chung trên chiếc xe ngựa có bánh màu vàng đóng cặp hồng mã đi ra từ một chuồng ngựa hạng sang.

Lúc đầu chúng tôi thấy hân hoan khi thấy cô Emily đã có được niềm vui sống, bởi trước đây các mụ đàn bà đều nói: “Con gái nhà Grierson dĩ nhiên sẽ không them để mắt đến một gã miền Bắc làm công ăn lương theo ngày.” Nhưng rồi những người lớn tuổi hơn nói rằng dù sầu khổ đến mấy cũng không thể làm cho một cô gái quyền quý quên đi nghĩa vụ của một quý tộc – mà không nói thẳng là nghĩa vụ của quý tộc. Họ chỉ nói rằng: “Tội nghiệp cho Emily. Thân quyến cô rồi sẽ đến thăm cô.” Cô ấy có một vài người thân tại Alabama; nhưng cách đây nhiều năm, cha cô ấy đã xích mích với họ về việc thừa hưởng đất đai từ quý bà Wyatt, một bà điên, và rồi cả hai bên chẳng còn lien lạc với nhau nữa. Thậm chí cũng chẳng có ai đến viếng đám tang.

Và ngay sau đó họ lại chép miệng: “Tội nghiệp Emily.”
Lời thì thầm bắt đầu: “Chị có nghĩ thật sự vậy không?”
Họ nói với nhau: “ Dĩ nhiên là vậy rồi. Còn gì khác ngoài…”

Họ che miệng bảo nhau hoặc xì xầm dưới những tấm lụa được kéo lên và đóng lại vào một buổi chiều chủ nhật khi vừa có tiếng clop clop clop của cặp hồng mã nhẹ nhàng lướt qua. “ Tội nghiệp cho Emily.”

Cô vẫn ngẩng cao đầu – thậm chí ngay cả khi chúng tôi tin rằng cô thất bại. Cứ như thế là hơn bao giờ hết cô đòi mọi người phải công nhận cái phẩm cách của cô như một người cuối cùng trong giòng họ Gierson và dường như chính cái vẽ tầm thường ấy tài xác nhận nhân cách bất khả xâm phạm của cô. Ví như hôm cô đi ma thuốc chuột, một chất cực độc. Việc đó đã hơn một năm sau khi họ nói: “Tội nghiệp Emily” và trong khi hai người chị họ đến thăm cô.

Cô ấy bảo người bán thuốc: “Tôi muốn mua thuốc độc.”

Lúc ấy cô đã hơn ba mươi tuổi, dáng vẽ vẫn mảnh mai, mặc dù gầy hơn thông thường, cặp mắt đen láy, kiêu kỳ và lạnh lung trên khuôn mặt da thịt căng tới thái dương bao quanh hai mắt trong như khuôn mặt của người gác hải đăng mà bạn có thể tưởng tượng ra. Cô bảo;

- Tôi muốn mua thuốc độc.
- Vâng, thưa cô Emily. Loại nào ạ? Loại dành cho chuột hay loại gì thế? Tôi sẽ giới thiệu…
- Tôi muốn mua loại tốt nhất mà ông có. Tôi không quan tâm loại nào
Người bán thuốc đưa ra vài cái tên.
- Những thứ đó có thể giết được cả voi ….nhưng loại cô muốn dung là ….
- Thạch tín – cô Emily đáp – Loại tốt nhất phải khong?
- Thạch ….tín à? Vâng, thưa cô. Nhưng cái cô muốn là ….
- Tôi muốn thạch tín.

Người bán thuốc nhìn cô, cô đứng thẳng người nhìn lại ông ta, mặt cô căng như lá cờ gió. Ngưới bán thuốc nói:

- Tất nhiên rồi. Nếu quả thực đó là thứ cô cần. Nhưng theo luật, xin cô cho biết cô sẽ dung chất đó vào việc gì.

Cô Emily chỉ nhìn chằm chằm vào mặt ông ta, đầu cô ngả ra phía sau để mắt cô có thể nhìn thẳng vào mắt ông ấy cho đến khi ông ấy quay lưng đi hướng khác để lấy thạch tín mà gói lại. Một thằng bé giao hàng da đen mang gói thạch tín đến cho cô; còn người bán thuốc không hề trở ra. Khi về đến nhà và mở gói thuốc ra, cô thấy trên cái hộp có hình đầu lâu, xương chéo lại dưới đó là hàng chữ “Dùng cho chuột.”

IV

Thế rồi hôm sau chúng tôi bảo nhau rằng: ‘Cô ấy sẽ tự sát’ và chúng tôi cho rằng như vậy sẽ tốt hơn cho cô. Khi cô ấy lần đầu gặp Homer Barron chúng tôi đã nói rằng: ‘Cô ta sẽ lấy hắn’. Thế rồi chúng tôi lại bàn nhau rằng: “Tất nhiên cô ta sẽ thuyết phục được gã’ bởi vì tự bản thân Homer – một gã chỉ thích đàn đúm với những gã đàn ông khác và nổi tiếng về việc đi nhậu cùng những tên thanh niên ở câu lạc bộ Elk- thừa nhận rằng hắn không thích hợp để lập gia đình. Rồi sau đó nữa chúng tôi lại nói: ‘Emily thật đáng thương” phía sau những tấm màn khi họ lướt qua vào một chiều Chủ Nhật trên một cỗ xe ngựa mui trần bóng loáng, cô Emily thì ngẩn cao đầu còn Homer Barron thì đội chiếc mũ ba góc không vành, miệng nghiến chặt điếu xì gà còn tay thì cầm dây cương và roi với găng tay màu vàng.

Thế rồi một số bà cho rằng như thế là một sỉ nhục cho thị trấn và là gương xấu cho lớp trẻ. Đàn ông thì chả muốn xía vào, nhưng rồi cuối cùng các bà cũng tác động vào mục sư phái Baptist đi tiếp xúc cô- toàn bộ những người thuộc nhà cô Emily đều theo dòng Giám mục. Ông không hé lộ bất cứ việc gì xảy ra trong buổi tiếp xúc nhưng ông từ chối quay lại. Chủ Nhật sau, họ tiếp tục lái xe qua các nẻo đường và ngày sau đó nữa bà vợ của mục sư viết thư gửi thân thích của cô Emily tai Alabama.
Vậy là cô ta cùng thân quyến của mình lại chung một mái nhà và chúng tôi thì tạm ngừng bàn tán để chờ xem diễn tiến ra sao. Lúc đầu thì chẳng có gì diễn ra. Nhưng rồi chúng tôi chắc là họ sắp lấy nhau. Vì chúng tôi biết tin là cô Emily trước đó đã đến tiệm kim hoàn và đặt một bộ trang sức nam bằng bạc đính kèm trên đó là hai chữ cái H.B trên mỗi mảnh. Hai ngày sau, chúng tôi lại biết được rằng cô ấy đã đi mua trọn một bộ đồ và quần áo cho nam, có cả đồ ngủ và chúng tôi kết luận rằng: ‘Họ thật sự lấy nhau rồi’. Chúng tôi thật sự lấy làm mừng. Chúng tôi mừng vì ít ra cô Emily cũng không đến nỗi quá cốt cách theo kiểu nhà Grierson như hai cô chị họ của cô ta.

Vì lẽ đó mà chúng tôi cũng chả mấy ngạc nhiên khi Homer biến đi-lúc này phía đường xá đã xong cách đây khá lâu. Chúng tôi hơi thất vọng vì chẳng có một cuộc vui chung nào nhưng chúng tôi tin rằng hắn chỉ bỏ đi để chuẩn bị đón cô Emily hoặc giúp cô có cơ hội thoát khỏi các cô chị họ (vào lúc ấy, quả thực chúng tôi đều về phía cô Emily giúp cô mưu mẹo để đuổi các bà chị họ kia). Một cách chắc chắn là họ đều ra đi sau một tuần. Và nhưng chúng tôi tiên liệu, chưa đầy ba ngày sau, Homer Barron đã trở lại. Trong một buổi chiều nhá nhem tối, một gã hàng xóm thấy ông lão da đen cho hắn vào từ lối cửa bếp.

Và đó là lần cuối mà chúng tôi còn trông thấy Homer Barron. Còn cô Emily thì thỉnh thoảng mới thấy. Ông lão da đen thì vẫn ra ra vào vào cùng chiếc giỏ nhưng cửa thì vẫn mãi đóng. Từ đấy đến giờ chúng tôi thi thoảng thấy cô ấy bên cửa sổ nhưng buổi tối mà bốn người đàn ông trong xóm rắc vôi vào nhà cô. Có khoảng thời gian gần sáu tháng chẳng hề thấy cô trên đường. Thế rồi lúc đó chúng tôi mới ngớ người ra, chúng tôi cũng dư liệu đến một điều là dường như tính cách gia trưởng và độc đoán của than phụ cô đã quá nhiều lần mâu thuẫn và ăn sâu vào nếp sống của cô đến nỗi không thể thay đổi được.

Lần sau khi chúng tôi thấy cô Emily, cô ta đã mập ra mái tóc cô đã ngã màu xám. Trong vài năm kế đó, mái tóc ngã màu nhiều hơn nữa cho tới lúc không còn ngã màu nữa. Tóc cô đã thành một mái tóc màu muối tiêu, màu xám sắt. Đến ngày cô mất ở tuổi bảy mươi tư, nó vẫn còn mang màu xám sắt mạnh mẽ như một người đàn ông khỏe mạnh.

Kể từ lúc ấy trở đi cửa chính nhà cô vẫn mãi đóng và cứ thế trong độ sáu bảy năm lúc ấy cô ta đã độ bốn mươi và thời gian này cô ấy dạy vẽ trên đồ gốm. Cô ta cho dựng một xưởng tại một trong những căn phòng ở lầu một, tại đây các cô con gái rồi cháu gái của những người cùng thời với đại tá Statorist được đều đặn gửi đến học đều đặn – với tinh thần na ná như là đi lễ vào Chủ Nhật. Mỗi người đi học phải góp vào đĩa hai mươi lăm cent trong khi đó cô ta vẫn được miễn thuế.

Thế rồi sau đó thế hệ trẻ hơn trở thành trụ cột và linh hồn của thị trấn, và lũ học trò học vẽ năm xưa đã khôn lớn, chẳng còn đưa con họ đến chỗ cô với những hộp màu, những chổi vẽ chán ngắt và những mẫu tranh cắt ra từ các tạp chí phụ nữ. Khi đứa học trò cuối cùng rời đi, cửa chính nhà cô đóng mãi từ đấy. Lúc thị trấn có dịch vụ giao thư miễn phí, chỉ có cô Emily là từ chối cho họ đóng bảng số bằng sắt lân cửa nhà cô và gắn hộp thư vào. Cô ta không hề chịu lắng nghe họ.

Ngày qua, tháng tới, năm đi chúng tôi thấy rõ mái tóc ông lão da đen xám dần và lưng còng hơn vẫn ra ra vào vào cùng chiếc giỏ. Cứ mỗi tháng mười hai, chúng tôi lại gửi giấy báo thuế cho cô mà rồi sau đó phía bưu điện sẽ trả lời sau một tuần với thông báo là không có người nhận. Thỉnh thoảng, chúng tôi có thấy cô ta từ một cửa sổ ở lầu một -Tất nhiên là cô ta đã đóng cửa hết lầu trên ngôi nhà - tựa như một bức tượng nằm ở hốc tường. Việc cô có thấy chúng tôi hay không cũng khó mà nói được. Vì thế mà cô đã đi qua từ thế hệ này đến thế hệ khác- cao giá, bất khả xâm phạm, không lẩn trốn, trầm tĩnh và ngoan cố.

Và thế cô ta lâm bệnh và mất đi trong ngôi nhà đầy bụi và bóng tối với duy nhất ông lão da đen lụm khụm kề bên hầu hạ. Chúng toi thậm chí không biết cô ta bệnh vì đã từ lâu không còn ai khai thác được bất cứ thông tin gì từ ông lão da đen nữa.

Ông ta không nói chuyện với ai và có lẽ với cả cô ấy vì chất giọng thô ráp và rỉ sét như không hề dùng tới của ông nữa.

Cô ta mất tại một trong những phòng ở lầu một trên một cái giường nặng nề bằng gỗ hồ đào với một chiếc màn, mái đầu xám của cô được đỡ bằng một chiếc gối màu vàng móc meo cùng năm tháng và vì thiếu ánh sáng.

V

Ông lão nô bộc da đen đón người đi đầu trong đám phụ nữ tại cửa chính và để họ vào trong với tiếng thì thầm cùng những cái nhìn lướt qua đầy tò mò và rồi ông ta lén đi mất. Ông ta đi qua căn nhà và rờ khỏi nhà từ phái cửa sau và rồi chẳng còn ai thấy lão nữa.

Hai người chị họ cũng hối hả đến. Họ làm đám tang vào ngày thứ hai sau khi cô mất, khi mọi người trong thị trấn đến viếng cô Emily đặt những đóa hoa được mua trước đó bên cạnh cô và cạnh bức chân dung bằng than chì của cha cô với dáng vẻ đang đăm chiêu và những người phụ nữ bàn tán trong tiếng xì xầm; những ông lão cao niên – một số trong quân phục liên quân miền Nam được chải chuốt - ở hành lang và bãi cỏ, đang bàn về cô Emily như thể cô ở cùng thời với họ, tin rằng họ đã từng khiêu vũ cùng cô và có lẽ là ve vãn cô, và cũng như bao người già khác họ cũng đang nhầm lẫn trong việc tính toán thời gian mà với họ quá khứ không phải còn đường đang dần bị lãng quên mà là một cánh đồng cỏ bao la mà không có mùa đông nào có thể chạm tới khiến họ cảm thấy mười năm vừa qua trong đời họ thật ngắn ngủi.

Và rồi chúng tôi mới nhậ ra có một căn phòng ở tầng trên mà đã bốn mươi năm qua không ai biết đến và phải phá cửa mới vào được. Họ đợi cho tới khi cô Emily mồ yên mã đẹp mới mở nó ra.
Người ta phá cửa mạnh đến độ làm căn phòng bụi mù tung lên. Dường như có mùi chết choc bao phủ khắp cả căn phòng vốn được trang trí cho cô dâu và chú rể: lẫn trong những tấm màng che màu hồng nhạt, những ngọn đèn hình hoa hồng, bàn trang điểm và cả những đồ pha lê thanh nhã và những trang phục cho nam với lớp bạc mờ đến độ những chữ viết tắt đã không còn đọc được nữa. Nằm giữa chúng là chiếc cổ áo và cà vạt như thể vừa mới được tháo ra – chỉ còn để lại vết hằn hình lưỡi liềm mờ trên lớp bụi. Trên một cái ghế có một bộ vét được gấp cẩn thận và treo lên; ngay bên dưới là đôi giày nằm lặng lẽ cùng đôi vớ bị vứt đi.

Chính là người đàn ông ấy trên giường.

Chúng tôi đứng lặng hồi lâu và cúi nhìn cái miệng cười sâu hóm không còn chút da thịt nào nữa. Chắc hẳn cái xác đã từng nằm ở thế ôm ấp, nhưng giờ giấc ngủ dài vốn chinh phục được bở tình yêu mù quáng đã đánh lừa được hắn. Những gì còn lại của hắn, một thân xác thối rữa trong bộ đồ ngủ, chẳng thể tách ra khỏi chiếc giường,và trên chiếc gối cạnh hắn có một lớp bụi dày đặc.

Rồi chúng tôi nhận ra trên cái gối thứ hai cạnh bên có vết lõm đầu của người đã nằm. Một người trong chúng tôi nhắc một thứ từ nó lên, và khi cúi xuống, lớp bụi gờn gợn vô hình khô khan mùi hăng sè xông thẳng lên mũi, chúng tôi nhận ra một sợi tóc màu bạc sắt.

Người dịch: Nguyễn Hòang Vũ Linh, Nguyễn Thị Mỹ Linh, Nguyễn Phi Hùng
Instructor: Pham Vu Phi Ho M.A.

Tại Denver, một đoàn hành khách chen chúc trong những toa xe lửa tốc hành của hãng B&M chạy về miền Đông. Trong một toa tàu, có một phụ nữ trẻ rất xinh đẹp, trong trang phục tao nhã và được bao quanh bởi mớ hành lí đắt tiền, đầy đủ tiện nghi của cô ấy, trông như thể một vị khách du lịch từng trải. Trong số những người mới lên tàu là hai người đàn ông trẻ, một trong số họ thì đẹp trai với vẻ mặt và cử chỉ liều lĩnh và thẳng thắn; người kia vẻ mặt buồn bã, dáng vẻ nặng nề, ăn mặc xốc xếch. Cả hai bị còng tay lại với nhau.

Khi hai người đi dọc theo hành lang trong toa tàu, chỉ còn chỗ trống đối diện với người phụ nữ trẻ quyến rũ.Tại đây, hai người bị khóa tay với nhau ngồi xuống.Người phụ nữ trẻ liếc nhìn với sự dè dặt, không bận tâm, sau đó, với một nụ cười đáng yêu làm sáng bừng nét mặt cô và đôi gò má tròn của cô ửng hồng, cô đưa một bàn tay nhỏ mang bao tay màu xám về phía trước. Khi cô nói, giọng cô trầm ấm và dịu dàng, ngọt ngào và khoan thai, cho thấy rằng người sở hữu giọng nói đó là người có duyên ăn nói:

“Ồ, anh Easton, nếu anh cho phép tôi được nói trước, tôi xin nói. Có khi nào anh nhận ra những người bạn cũ khi anh gặp họ ở miền Tây không?”

Chàng thanh niên thức tỉnh khi nghe giọng nói của cô gái, hình như có một chút bối rối nhưng anh vẫn trấn tĩnh ngay được, rồi bàn tay trái của anh siết chặt những ngón tay của cô.

Anh mỉm cười và nói: “Cô Fairchild! Xin cô thứ lỗi cho, cánh tay còn lại của tôi hiện đang bị giữ chặt rồi.”

Anh nâng nhẹ bàn tay phải với cổ tay đang bị khóa chung với tay trái của người bạn đồng hành bởi “chiếc lắc tay lấp lánh”. Nét tươi vui trong mắt cô gái dần chuyển sang bối rối. Vẻ rạng rỡ nhạt dần hiện rõ trên đôi gò má. Đôi môi cô hé mở, thóang buồn. Easton khẽ cười có vẻ thích thú và nói lặp lại khi người đàn ông đi chung với anh ta chặn lời trước. Người đàn ông có vẻ mặt cau có, nãy giờ quan sát vẻ mặt của cô gái bằng những cái nhìn buồn bã che giấu vẻ ranh mãnh của hắn.

“Tôi xin lỗi đã xen vào nói chuyện, xin cô thứ lỗi khi tôi nói điều này, nhưng tôi thấy cô có vẻ quen biết với ngài cảnh sát trưởng, nếu cô yêu cầu ông ấy nói giúp cho tôi khi chúng tôi đến trại giam, ông ấy sẽ nghe theo và như vậy sẽ khiến tôi dễ chịu hơn khi ở đó. Ông ấy đang dẫn tôi đến nhà tù Leavenworth. Mức án cho tôi là bảy năm vì tội làm tiền giả.”

“Ồ!” Cô thở phào, sắc mặt rực rỡ trở lại. “Vậy đây là nhiệm vụ mà anh đang thi hành à? Một cảnh sát trưởng!”

“ Quý cô Fairchild thân mến của tôi” anh ta chậm rãi nói “ Tôi đã làm một số việc. Tiền bạc luôn là sự bảo trợ tốt nhất, cô biết đấy, phải có tiền để theo kịp với đám đông ở Washington. Tôi thấy có một chức vụ khuyết ở miền Tây và... à, chức Cảnh sát trưởng không được cao như Đại Sứ, nhưng...”
Cô nói một cách ấm áp: “Chức Đại sứ không còn trội nữa. Anh không cần làm như thế. Anh có lẽ biết điều đó. Và bây giờ anh là một trong số những người hùng miền Tây hăng hái, cưỡi ngựa, bắn súng và trải qua các mối nguy hiểm. Cuộc sống nơi đây khác hẳn ở Washington. Anh sẽ luôn được bạn bè cũ nhớ đến.”

Đôi mắt của cô lại trở nên quyến rũ và mở to hơn một chút, ánh nhìn của cô dừng lại ở chiếc còng tay sáng chói.

Người đàn ông kia nói: “Đừng lo cho họ, thưa cô. Tất cả cảnh sát trưởng đều phải bị còng chung với tù nhân để giữ cho họ khỏi trốn thoát. Ông Easton biết rõ nhiệm vụ của ông ấy”

Cô gái hỏi: “Chúng ta sẽ sớm gặp lại ở Washington phải không?”

Easton nói: “Tôi nghĩ còn lâu. Tôi sợ những ngày bay nhảy của tôi đã qua rồi.”

“Tôi yêu miền Tây.” Cô gái nói một cách bóng gió. Mắt cô sáng lên nhè nhẹ. Cô nhìn ra cảnh vật xa xa bên ngoài cửa sổ xe. Cô bắt đầu nói một cách chân thật và giản đơn, không còn lớp bóng loáng của kiểu cách và cử chỉ: “Mẹ tôi và tôi nghỉ hè ở Denver. Bà trở về nhà tuần trước vì cha tôi bị ốm. Tôi có thể sống và hạnh phúc ở miền Tây. Tôi nghĩ khí hậu ở đây hợp với tôi. Tiền không phải là tất cả. Nhưng người ta luôn luôn lẫn lộn với mọi thứ và vẫn thường ngu ngốc...”

Người có vẻ mặt buồn bã cắt ngang: “ Ông cảnh sát trưởng, điều này không công bằng! Tôi cần cái gì đó để uống, và chưa được hút thuốc cả ngày. Ông nói chuyện xong chưa? Dẫn tôi đi hút thuốc được không! Tôi thèm thuốc gần chết”.

Cả hai hành khách bị còng tay vào nhau đứng dậy. Easton với nụ cười trên môi, anh nói khẽ: “Tôi không thể từ chối lời yêu cầu về thuốc lá. Nó là bạn của những người không may. Tạm biệt, Fairchild. Cô biết vì nhiệm vụ mà”. Nói xong anh đưa tay ra từ giã.

Cô nói: “Thật tiếc khi anh không đi về phía đông. Nhưng tôi đoán anh phải đi Leavenworth”.

Easton nói: “ Đúng vậy. Tôi phải đi Leavenworth.

Hai người lướt dọc hành lang về khu vực dành cho người hút thuốc.

Hai hành khách ngồi gần đó đã nghe hầu hết câu chuyện. Một người trong số họ nói: “Ông ấy thật tốt. Một vài gã miền Tây cũng được đấy.”

Người kia nói: “Nhưng còn khá trẻ để giữ chức vụ ấy phải không?”

Người nói chuyện đầu tiên la lên: “Trẻ! Tại sao... Ô ! Ông không để ý sao? Ông có từng biết một sĩ quan nào lại còng tội phạm vào tay phải của họ không?”

------------
At Denver there was an influx of passengers into the coaches on the eastbound B. & M. express. In one coach there sat a very pretty young woman dressed in elegant taste and surrounded by all the luxurious comforts of an experienced traveler. Among the newcomers were two young men, one of handsome presence with a bold, frank countenance and manner; the other a ruffled, glum-faced person, heavily built and roughly dressed. The two were handcuffed together.

As they passed down the aisle of the coach the only vacant seat offered was a reversed one facing the attractive young woman. Here the linked couple seated themselves. The young woman's glance fell upon them with a distant, swift disinterest; then with a lovely smile brightening her countenance and a tender pink tingeing her rounded cheeks, she held out a little gray-gloved hand. When she spoke her voice, full, sweet, and deliberate, proclaimed that its owner was accustomed to speak and be heard.

"Well, Mr. Easton, if you will make me speak first, I suppose I must. Don't vou ever recognize old friends when you meet them in the West?"

The younger man roused himself sharply at the sound of her voice, seemed to struggle with a slight embarrassment which he threw off instantly, and then clasped her fingers with his left hand.

"It's Miss Fairchild," he said, with a smile. "I'll ask you to excuse the other hand; "it's otherwise engaged just at present."

He slightly raised his right hand, bound at the wrist by the shining "bracelet" to the left one of his companion. The glad look in the girl's eyes slowly changed to a bewildered horror. The glow faded from her cheeks. Her lips parted in a vague, relaxing distress. Easton, with a little laugh, as if amused, was about to speak again when the other forestalled him. The glum-faced man had been watching the girl's countenance with veiled glances from his keen, shrewd eyes.

"You'll excuse me for speaking, miss, but, I see you're acquainted with the marshall here. If you'll ask him to speak a word for me when we get to the pen he'll do it, and it'll make things easier for me there. He's taking me to Leavenworth prison. It's seven years for counterfeiting."

"Oh!" said the girl, with a deep breath and returning color. "So that is what you are doing out here? A marshal!"

"My dear Miss Fairchild," said Easton, calmly, "I had to do something. Money has a way of taking wings unto itself, and you know it takes money to keep step with our crowd in Washington. I saw this opening in the West, and--well, a marshalship isn't quite as high a position as that of ambassador, but--"

"The ambassador," said the girl, warmly, "doesn't call any more. He needn't ever have done so. You ought to know that. And so now you are one of these dashing Western heroes, and you ride and shoot and go into all kinds of dangers. That's different from the Washington life. You have been missed from the old crowd."

The girl's eyes, fascinated, went back, widening a little, to rest upon the glittering handcuffs.

"Don't you worry about them, miss," said the other man. "All marshals handcuff themselves to their prisoners to keep them from getting away. Mr. Easton knows his business."

"Will we see you again soon in Washington?" asked the girl.

"Not soon, I think," said Easton. "My butterfly days are over, I fear."

"I love the West," said the girl irrelevantly. Her eyes were shining softly. She looked away out the car window. She began to speak truly and simply without the gloss of style and manner: "Mamma and I spent the summer in Denver. She went home a week ago because father was slightly ill. I could live and be happy in the West. I think the air here agrees with me. Money isn't everything. But people always misunderstand things and remain stupid--"

"Say, Mr. Marshal," growled the glum-faced man. "This isn't quite fair. I'm needing a drink, and haven't had a smoke all day. Haven't you talked long enough? Take me in the smoker now, won't you? I'm half dead for a pipe."

The bound travelers rose to their feet, Easton with the same slow smile on his face.

"I can't deny a petition for tobacco," he said, lightly. "It's the one friend of the unfortunate. Good-bye, Miss Fairchild. Duty calls, you know." He held out his hand for a farewell.

"It's too bad you are not going East," she said, reclothing herself with manner and style. "But you must go on to Leavenworth, I suppose?"

"Yes," said Easton, "I must go on to Leavenworth."

The two men sidled down the aisle into the smoker.

The two passengers in a seat near by had heard most of the conversation. Said one of them: "That marshal's a good sort of chap. Some of these Western fellows are all right."

"Pretty young to hold an office like that, isn't he?" asked the other.

"Young!" exclaimed the first speaker, "why--Oh! didn't you catch on? Say--did you ever know an officer to handcuff a prisoner to his right hand?"

GROUP MEMBERS: HOÀNG VŨ HỒNG HOA, NGUYỄN THỊ HIỀN, BÙI THỊ BÍCH LIÊN, NGUYỄN THỊ DIỄM LY

INSTRUCTOR: PHAM VU PHI HO M.A.

Soapy nằm co ro trên băng ghế trong quảng trường Madison. Khi tiếng kêu của bầy ngổng trời vang lên trong màn đêm, khi những người phụ nữ không có áo choàng làm bằng da hải cẩu trở nên dịu dàng với chồng, và khi Soapy nằm co ro trên băng ghế trong quảng trường, chùng ta có thể biết rằng mùa đông đang đến gần.

Một chiếc lá vàng rơi vào lòng Soapy, đó là tấm danh thiếp của Jack Frost. Jack rất tử tế với những cư dân thường hay lui tới quảng trường Madison và báo trước cho họ về những chuyến viếng thăm hàng năm của mình. Phía cuối những con phố chàng trao tấm danh thiếp của mình cho North Wind - người hầu của lâu đài All Outdoors để người dân ở đây có thể chuẩn bị sẵn sàng đón mùa đông tới.
Soapy ý thức được rằng đã đến lúc phải tìm cách để được vào tù để chống lại sự khắc nghiệt của mùa đông. Vì thế anh nằm co ro trên băng ghế.

Tham vọng trong mùa đông của Soapy không lớn lắm. Anh ta không màng tới cuộc du hành trên biển Địa Trung Hải, cũng không mảy may nghĩ tới vẻ đẹp làm say đắm của miền Nam cũng như bồng bềnh trên vịnh Vesuvian. Những gì anh ta khát khao chỉ là ba tháng ở Đảo, ba tháng với tất cả sự ổn định về nơi ăn, chốn ở, và những gì người bạn cùng chung cảnh ngộ được thoát khỏi những cơn gió Bấc và những viên cảnh sát trong sắc phục màu xanh. Ba tháng đó đối với Soapy mới thật sự là điều đáng khao khát.

Mấy năm qua, nhà tù Blackwell hiếu khách trở thành nơi trú đông của Soapy. Cũng như những người bạn New York may mắn hơn đã mua được những tấm vé đến biển Palm và Riviean vào mỗi mùa đông. Soapy cũng sắp xếp cho chuyến hành hương giản dị hàng năm đến Hòn Đảo. Đêm trước anh nằm trên chiếc ghế cạnh vòi phun nước trong quảng trường cổ kính với ba tờ báo Sabbath anh đã dùng chúng để lót chỗ nằm quấn quanh mắt cá chân và che ngang bụng cũng không thể đẩy lùi cái lạnh giá của mùa đông. Đúng lúc đó, hình ảnh hòn đảo hiện ra rõ rệt trong tâm trí anh. Theo anh, Luật pháp dễ chịu hơn Lòng hảo tâm. Có rất nhiều tổ chức từ thiện nơi anh đến xin và nhận được chỗ trú ngụ cùng bữa ăn đạm bạc. Nhưng với lòng kiêu hãnh của Soapy, sự ban ơn là gánh nặng. Mỗi ân huệ nhận được từ các tổ chức từ thiện nếu ta không trả được bằng tiền thì cũng phải trả bằng lòng tự trọng. Mỗi chỗ nằm hay mẩu bánh mì được bố thí đều phải trả giá bằng sự xoi mói vào đời sống riêng của mỗi cá nhân. Do đó, tốt hơn hãy là khách của pháp luật, dù bị quản lí bởi luật lệ họ cũng không can thiệp quá mức vào chuyện riêng của một người.

Ngay khi quyết định phải tới được Đảo Blackwell Soapy bắt tay vào thực hiện niềm khát khao đó. Thực ra có rất nhiều cách để làm việc này. Cách thú vị nhất là vào một khách sạn sang trọng và ăn một bữa thịnh soạn, chắc chắn sau khi tỏ rõ không có tiền trả, mình sẽ được dẫn tới đồn cảnh sát một cách êm xuôi. Vị quan tòa tử tế sẽ giải quyết phần còn lại.

Soapy rời băng ghế ra khỏi quảng trường và băng qua những con đường nhựa mà đại lộ Broadway và đại lộ 5 giao nhau. Đi lên đường Broadway, anh dừng chân trước quán cà phê rực rỡ nơi hằng đêm tập trung những của ngon vật lạ được chọn lọc kĩ càng nhất.

Soapy tự tin từ chiếc nút áo thấp nhất trở lên. Anh đã cạo râu, mặc chiếc áo lịch sự, với chiếc nơ thắt sẵn gọn gàng được bà truyền giáo cho vào lễ tạ ơn. Nếu Soapy tới được bàn ăn trong quán cà phê mà không bị nghi ngờ, thì chắc chắn anh sẽ thành công. Soapy nghĩ một con vịt quay sẽ là món ngon với chai rượu Chablis, rồi pho-mát Camembert, một tách cà phê và một điếu xì gà, một dollar xì gà là đủ. Tổng số tiền sẽ không quá cao đến nỗi người quản lí quán cà phê phải có biện pháp mạnh, nhưng bữa ăn sẽ giúp anh no nê và thoải mái cho chuyến hành trình đến Hòn Đảo.

Nhưng khi Soapy đặt chân qua cửa nhà hàng thì cặp mắt của người quản lý chú ‎ý ngay đến chiếc quần đã sờn và đôi giày cũ kỹ của anh ấy. Ngay lập tức những cánh tay lực lưỡng, xoay anh lại, đẩy anh ra ngoài vỉa hè, và thế là con vịt thoát khỏi số phận đau thương.

Soapy rời đại lộ Broadway. Dường như đó không phải là con đường dành cho những người hưởng lạc. Đành phải tìm cách khác để vào tù vậy.

Ở góc đại lộ 6, những ánh đèn điện và hàng hóa được trưng bày khéo léo phía sau tấm kính dày làm cửa hiệu trông thật bắt mắt. Soapy nhặt một hòn đá, rồi ném vào tấm kính. Một người dẫn đầu là một viên cảnh sát. Hai tay đút túi, miệng mỉm cười, Soapy vẫn đứng dó nhìn những chiếc khuy đồng.

Viên cảnh sát giận giữ hỏi: “ Kẻ đập kính vỡ đâu rồi?”

Một cách mỉa mai Soapy hỏi bằng giọng thân thiện như một kẻ chào đón vận may “ Ông không nghĩ là tôi đã làm gì sao?”

Viên cảnh sát không hề nghi ngờ Soapy. Theo ông những kẻ đập vỡ cửa không đứng lại trò chuyện với người thi hành luật pháp. Chúng phải trốn ngay lập tức.

Nhìn thấy một người đàn ông đang cố đuổi kịp chiếc xe, viên cảnh sát rút dùi cui và đuổi theo. Sau hai lần thất bại, Soapy bỏ đi với tâm trạng chán chường.

Phía bên kia đường là một quán ăn nhưng cũng không kỳ vọng lắm, quán ăn phục vụ cho những người phàm ăn và ví tiền ít ỏi. Bát đĩa dày, bầu không khí đông đúc, món súp loãng, khăn ăn mỏng. Soapy bước vào với đôi giày đã sờn và chiếc quần cũ kỹ mà không vấp phải thách thức nào. Ngồi vào bàn, anh ăn bò bít tết, bánh nướng, bánh rán, bánh nhân trái cây, và anh cho người hầu bàn biết rằng anh không có một xu dính túi.

Soapy nói: “Bây gờ, có việc rồi đấy, gọi cảnh sát đi, đừng để một quí ông phải chờ đợi”.

Với một giọng điệu ngọt ngào, ánh mắt tươi như trái anh đào trong một ly cocktail Manhattan, người hầu bàn nói “ Không cần cảnh sát cho mày”. “Này, Con”.

Hai người hầu bàn nhanh tay ném Saopy ra ngoài vỉa hè. Anh đứng dậy, vặn vẹo người như cây thước của người thợ mộc mở ra vậy, và phủi quần áo. Việc bắt giữ dường như là một giấc mơ hoa. Hòn đảo có vẻ xa xôi. Trước cửa hiệu thuốc cách đó hai nhà, viên cảnh sát cười khà khà và đi về cuối đường.

Soapy đi qua năm dãy nhà, trước khi lòng dũng cảm cho phép, anh cố gắng lần nữa để bị bắt. Lần này, cơ hội thể hiện những gì mà anh cho là “dễ ăn”. Một người phụ nữ trẻ với dáng vẻ dễ nhìn, đang đứng trước cửa kính mải mê ngắm cách trưng bày những chiếc cốc đựng xà phòng, kem và giá để bút mực. Cách đó hai thước, một viên cảnh sát to con, với vẻ nghiêm nghị đang dựa vào vòi nước.

Lần này, anh có ý định vào vai một tên sở khanh. Vẻ lịch sự, tao nhã của nạn nhân, và người cảnh sát tận tâm ngay gần đó như cỗ vũ anh tin chắc rằng viên cảnh sát sẽ túm lấy anh và anh sẽ được một chỗ trú đông trên hòn đảo chật hẹp.

Soapy vuốt thẳng lại chiếc nơ, kéo lại cổ tay áo nhăn nhúm, sửa chiếc mũ nghiêng một bên và lén lén đi về phía người phụ nữ trẻ.

Anh liếc mắt đưa tình với cô ấy, hắng giọng “hém”, nở nụ cười và giở trò bỉ ổi như một tên sở khanh. Soapy lén nhìn viên cảnh sát đang đứng yên nhìn chằm chằm vào anh. Người phụ nữ trẻ bước vài bước, rồi lại say sưa ngắm những chiếc cốc. Soapy mạnh dạn tới gần, ngã nón chào và nói: “Bedelia! Em có muốn tới sân nhà anh chơi không?”.

Viên cảnh sát vẫn không rời mắt khỏi anh. Cô gái chỉ cần vẫy tay thì Soapy sẽ đến được Hòn Đảo. Soapy đã cảm nhận được cảm giác ấm áp và dễ chịu ở nơi đó. Cô gái đứng trước mặt anh, nắm lấy tay áo anh.

Cô hoan hỉ nói “Chắc chắn rồi, Mike, em định bảo anh sớm hơn nhưng mà cảnh sát đang để ý tới chúng ta đó”.

Cô dính chặt lấy anh như dây thường xuân bám vào cây sồi. Họ đi qua viên cảnh sát. Dường như số mệnh đã ban cho anh sự tự do.

Tới một góc phố khác, anh giật ra khỏi cô và vùng chạy. Tới một khu phố anh dừng lại và cảm nhận vẻ đẹp tuyệt vời của nó; những con đường sáng rực, những trái tim thổn thức, những lời thề nguyền sâu lắng, và những khúc nhạc du dương.

Những người phụ nữ khoác lên mình những chiếc áo lông thú và những người đàn ông mang những chiếc áo bành tô đi lại vui vẻ trong khí trời lạnh giá của mùa đông. Bất chợt, một nỗi sợ hãi bao trùm lấy Soapy, một loại bùa mê đáng sợ nào đó đã khiến anh không bị bắt. Ý nghĩ đó làm anh hoảng sợ. anh tình cờ thấy một viên cảnh sát khác đi qua đi lại trước một rạp hát rực rỡ ánh đèn, anh nghĩ tới ngay hành vi “gây mất trật tự”.

Trên vỉa hè Soapy bắt đầu la hét những lời lảm nhảm của một kẻ say bằng giọng nói chói tai của mình. Anh nhảy múa, hò hét, gào lên và làm đủ mọi trò gây náo loạn.

Viên cảnh sát xoay cái dùi cui, quay lưng về phía Soapy và nói với một người dân.

“Đó là thành viên của đội Yale đang ăn mừng chiến thắng trước đội trường Hartford. Dù hơi ầm ĩ nhưng không đáng ngại. chúng tôi được chỉ thị cứ để mặc họ như vậy”.

Thất vọng, Soapy thôi không gây huyên náo nữa. Chẳng lẽ cảnh sát sẽ không bao giờ bắt anh sao? Anh tưởng tượng rằng Hòn Đảo dường như là vùng Areadia không thể nào tới được. Anh cài lại chiếc khuy áo để chống lại cơn gió lạnh.

Trong cửa hiệu xì ga anh nhìn thấy một người ăn mặc lịch sự đang châm điếu thuốc. Ông ta bỏ chiếc ô của mình ngay lối cửa ra vào. Soapy bước vào, cầm lấy chiếc ô rồi thong thả đi ra. Người đàn ông vội đuổi theo.

Ông nghiêm nghị nói: “cái dù của tôi”

Soapy cười khinh bỉ và chế diễu việc ăn cắp vặt. “Vậy à, sao ông không gọi cảnh sát? Tôi đã đánh cắp nó. Cái dù của ông! Tại sao ông không báo cảnh sát? Ở ngay góc phố có một viên cảnh sát đang đứng đó kìa”.

Người đàn ông đi chậm lại, Soapy cũng vậy và anh linh cảm rằng vận may lại không đến với anh. Viên cảnh sát nhìn họ một cách khó hiểu.

“Đương nhiên,” người đàn ông nói-- “Đó là--à, anh biết làm sao mà những hiểu lầm này lại xảy ra không-- tôi-- nếu đó là cái ô của anh thì tôi mong là anh sẽ tha lỗi cho tôi. Tôi đã nhặt được nó sáng nay trong một nhà hàng, nếu nó là ô của anh, tại sao – tôi mong anh sẽ--”

“Đương nhiên nó là của tôi Soapy,” hằn học nói.

Người đàn ông bỏ đi. Còn viên cảnh sát thì vội vàng đến giúp một cô gái tóc vàng, dáng cao, mặc chiếc áo biểu diễn nhạc kịch băng qua đường để đón chiếc tàu điện sắp đi qua.

Soapy đi về hướng đông qua một con đường đang bị đào lên để sữa chữa. Anh tức giận quẳng cây dù xuống hố. Anh lẩm bẩm nguyền rủa những người đội mũ sắt, mang dùi cui vì anh muốn bị bắt. Dường như họ xem anh là một ông hoàng không làm gì sai cả.

Cuối cùng, Soapy đến một đại lộ không mấy náo nhiệt ở phía đông. Rồi anh hướng về quảng trường Madison, bởi đó là bản năng hướng về “ngôi nhà”, dù ngôi nhà đó chỉ là một băng ghế trong công viên.

Soapy đến một ngõ cụt trong một góc phố yên tĩnh lạ thường. Ở đó có một nhà thờ cũ, cổ kính, nhiều ngóc ngách và có đầu hồi. Ánh sáng êm dịu xuyên qua cửa sổ màu tím. Bên trong nhà thờ, một nhạc công đang lướt những ngón tay trên phím đàn để chắc rằng bài thánh ca sẽ được biễu diễn tốt nhất. Những nốt nhạc du dương đó vọng đến tai Soapy khiến anh sững sờ.

Giữa màn đêm, ánh trăng sáng vằng vặc, trên đường, hầu như không còn người và xe cộ qua lại. Dưới mái hiên, những chú chim sẻ rũ rượi hót. Trong một khoảnh khắc, khung cảnh như một nghĩa địa ở vùng quê. Dường như bản thánh ca đó đã giữ chặt anh lại bên hàng rào sắt. Trong anh đang trào dâng biết bao kỉ niệm của những ngày tháng đã qua. Khi ấy, bên đời anh là tình mẹ, là những đóa hồng, là tham vọng, là những người bạn, là những ý nghĩ thật thuần khiết.

Những cảm xúc sâu thẳm trong trái tim anh hòa quyện với nét cổ kính toát ra từ ngôi nhà thờ đã tạo nên một sự thay đổi trong tâm hồn anh, một sự thay đổi đột ngột và diệu kì. Anh chợt rùng mình khi nhìn lại cái vực mà anh đã sa xuống, khi nhớ lại những tháng ngày nhục nhã, những ham muốn tầm thường, những hi vọng bị dập tắt, những năng lực tiêu tan và những động cơ thấp hèn. Chúng tạo nên sự hiện hữu của anh.

Và trong giây phút đó, trái tim anh xao động trước tâm trạng mới lạ này. Và điều đó thôi thúc anh đấu tranh với số phận tuyệt vọng. Anh sẽ tự mình thoát ra khỏi vũng bùn. Anh sẽ trở lại là con người của trước đây. Anh sẽ chiến thắng những cái xấu xa đang ngự trị trong con người anh. Anh sẽ làm sống lại những tham vọng sôi nổi của một thời đã xa và quyết tâm theo đuổi những tham vọng ấy bởi anh còn trẻ và còn thời gian. Những nốt nhạc nghiêm trang và ngọt ngào đã tạo ra sự biến chuyển lớn trong anh. Ngày mai, nhất định anh đi vào trung tâm thành phố tìm việc làm. Một nhà nhập khẩu lông thú đã từng đề nghị anh làm tài xế. Ngày mai, anh sẽ tìm ông ta và xin làm ở vị trí đó. Anh sẽ là một ai đó trên thế giới này. Anh sẽ…

Bất chợt, Soapy cảm thấy có một bàn tay đang giữ lấy tay anh. Anh quay phắt lại và nhìn vào khuôn mặt của một viên cảnh sát.

Tên cảnh sát hỏi: “Anh làm gì ở đây”?
Soapy trả lời: “Không làm gì cả”.
Tên cảnh sát tiếp lời: “vậy thì hãy theo tôi”.
Sáng hôm sau, viên quan tòa tuyên án: “ba tháng tù ở đảo”.